Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Pháp và Phi-nhị-nguyên Tính - Dhamma and Non-duality - Bhikkhu Bodhi

Pháp và Phi-nhị-nguyên Tính - Dhamma and Non-duality

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Việt dịch - Minh Hạnh  dịch ngày 30-3-2018

Một trong những vấn đề thách thức nhất mà Phật Giáo Nguyên Thủy phải đối mặt trong những năm gần đây là sự gặp gỡ giữa truyền thống Thiền Vipassana Theravada và truyền thống Thiền Quán "Phi-nhị nguyên tính" của tiểu trường phái Advaita Vedanta của triết lý Vệ Đà và Phật Giáo Đại Thừa. Những phản ứng lại cuộc đối đầu này đã kéo dài đến mức cực đoan, phạm vi từ sự xung đột mãnh liệt đến các nỗ lực có xu hướng tổng hợp và lai ghép.Trong khi bài tiểu luận này không thể đòi hỏi làm sáng tỏ tất cả những vấn đề phức tạp và huyền ảo bao gồm trong cuộc đối thoại này đôi khi không ổn định, tôi hy vọng nó có thể đóng góp một vài tia ánh sáng theo định hướng quan điểm kinh điển Theravada.

Nhận xét đầu tiên sơ khởi của tôi nhấn mạnh rằng một hệ thống tu tập thiền định không phải là tự khép kín mình trong kỷ luật. Bất kỳ phương pháp xác thực nào về việc tu tập tâm linh thì luôn đặt nền tảng ẩn trong một quan niệm khuôn mẫu mà nó xác định các vấn đề thực hành là có dụng ý để giải quyết và mục tiêu hướng tới cái đã được định hướng. Vì lý do đó sự hợp nhất của các phương pháp truyền thụ cho các nhận thức thống nhất không tương hợp thì đầy rủi ro. Mặc dù những sự hợp nhất như vậy có thể làm dịu đi xu hướng thử nghiệm hoặc thuyết chiết trung, nhưng dường như hiệu quả lâu dài của nó sẽ tạo ra một "sự bất hòa liên quan đến nhận thức" điều đó sẽ phản xạ qua các mức độ sâu hơn của tâm lý và gây ra sự nhầm lẫn thậm chí còn lớn hơn.

Điểm lưu ý thứ hai của tôi cho thấy các truyền thống tâm linh Phi-nhị-nguyên tính đôi khi không phù hợp với nhau, nhưng thay vào đó, có nhiều quan điểm sâu sắc khác nhau và chắc chắn được tô màu bởi các đường nét khái niệm rộng hơn của các triết lý bao gồm chúng

Đối với trường phái triết học Vedanta (trong Ấn Độ Giáo), phi nhị nguyên tính (advaita) có nghĩa là không có sự phân biệt cuối cùng giữa Ngã thể, cái tôi tận cùng nhất, và Đại Ngã, thực tại linh thiêng, nền tảng của thế giới. Từ quan điểm của sự nhận thức thấu đáo về Pháp cao nhất, chỉ có duy nhất một thực tại cuối cùng tồn tại - đó là cùng một lúc Ngã thể và Đại ngã - và mục tiêu của cuộc tìm kiếm linh hồn để biết sự thật về chính mình, Ngã thễ, là thực thể vượt thời gian đó là Hiện Hữu, Tỉnh Thức, Hạnh Phúc. Từ khi tất cả các trường phái Phật giáo đều chối bỏ ý tưởng của Ngã thể, không ai có thể chấp nhận phi nhị nguyên tính của trường phái Vedanta. Từ quan điểm của truyền thống Theravada, bất kỳ sự truy tìm nào về tự ngã, cho dù đó là một cá thể vĩnh cửu hoặc là một cái tôi phổ quát tuyệt đối, sẽ phải bị bác bỏ như là một ảo tưởng, một lý thuyết suông ngớ ngẩn mang lại từ sự thất bại trong việc nhận thức thấu đáo đúng bản chất qua kinh nghiệm cụ thể.Theo Kinh Tạng Pāli , một chúng sinh đơn giản chỉ là một sự tổng hop phức tạp của ngũ uẩn, tất cả đều được quy định bằng ba định luật vô thường, đau khổ và vô ngã. Bất cứ giả định nào về tự ngã đối với vấn đề tổng hợp về hiện tượng nhất thời này là một trường hợp về "kiến thức chấp ngã." (sakkayaditthi), xiềng xích cơ bản nhất đó là ràng buộc chúng sinh với vòng tròn tái sanh. Kiến thức về việc giải thoái, đối với Phật giáo, không phải là việc thực hiện một cái ngã chân thực hay tuyệt đối "tôi", nhưng thông qua việc giải thể ngay cả ý nghĩa táo bạo nhất của tự ngã trong mối quan hệ với ngũ uẩn, "việc xóa bỏ tất cả những gì là tôi -tôi làm, của tôi-làm, và những xu hướng nằm dưới tính ngã mạn".

Các trường phái Phật Giáo Đại Thừa, mặc dù những sự khác biệt rất lớn lao của họ, nhưng đồng ý tán thành luận điểm quá khích, theo quan điểm Phật Giáo Theravada. Điều tuyên bố này là không có sự khác biệt cuối cùng giữa luân hồi và Niết bàn, phiền não và thanh tịnh, vô minh và giác ngộ.Đối với trường phái Đại Thừa, sự giác ngộ mà con đường tu tập Phật giáo được mục đích để tỉnh thức ở chỗ chính xác trong việc nhận ra quan điểm phi nhị nguyên tính.Tính chất hợp lệ của tính hai mặt thông thường bị từ chối bởi vì bản chất cuối cùng của tất cả các hiện tượng là tánh Không, không có bất kỳ giá trị thực sự hay tính chất xác thực nội tại, và do đó trong tánh không của tất cả các hiện tượng thay đổi khác nhau,có vẻ như sự phản đối được đặt ra bởi học thuyết Phật giáo thông thường cuối cùng trùng hợp: "Tất cả các pháp đều có một bản chất, điều đó không phải là tự nhiên. "

Lời dạy của đức Phật được tìm thấy trong kinh điển Pali không tán thán một triết lý về phi nhị nguyên tánh của bất kỳ loại nào, và tôi cũng không thể thêm vào đó, một viễn cảnh không phải là nhị nguyên tính được tìm thấy nằm trong những bài thuyết giảng của Đức Phật. Tuy nhiên, dù vậy, tôi sẽ không xác nhận rằng các kinh điển Pali đề ra thuyết nhị nguyên, sự sắp đặt của tính hai mặt như một giả thuyết siêu hình hướng vào sự phê chuẩn tài trí. Tôi sẽ định rõ đặc điểm mục đích của Đức Phật trong kinh điển Pali như là chủ yếu thực dụng hơn là lý thuyết, mặc dù tôi cũng làm nhẹ bớt điều này bằng cách nói rằng chủ nghĩa thực dụng này không hoạt động trong một trật tự triết học nhưng tìm thấy nền tảng của nó trong trạng thái tự nhiên hiện thực khi Đức Phật hiểu thấu nó trong sự giác ngộ của Ngài. Tương phản với các hệ thống phi nhị nguyên tính, cách tiếp cận của Đức Phật không nhằm mục đích khám phá ra một nguyên tắt đạo đức hợp nhất ở đằng sau hoặc kinh nghiệm thấp kém của chúng ta về thế giới. Thay vào đó, nó phải lấy thực tế cụ thể của kinh nghiệm sống, với tất cả sự mơ hồ lan truyền của nó về sự tương phản và phiền não, là điểm khởi đầu và là điểm chính của nó,trong đó nó cố gắng để chẩn đoán trung tâm vấn đề là cốt lõi của sự tồn tại của con người và đưa ra một giải pháp . Do đó, tu tập Phật giáo theo con đường cực đoan không phải là sự hiệp nhất cuối cùng mà là dập tắc sự đau khổ, đưa đến sự giải quyết vấn đề tiến thoái lưỡng nan đang hiện hữu ở mức cơ bản nhất.

Khi chúng ta nhìn vào những điều chúng ta đã kinh qua đúng như nó là thể hiện của bản thân, chúng ta thấy rằng nó được thâm nhập bởi một số phê bình hai mặt quan trọng bằng quan hệ mật thiết sâu sắc cho sự truy tìm tâm linh. Lời dạy của Đức Phật, như được ghi lại trong kinh điển Pāli, đã thu hút sự chú ý của chúng ta một cách không mệt mỏi vào những sự đối xử này và coi sự thừa nhận của họ như là nền tảng không thể thiếu đối với bất kỳ sự tìm kiếm sự giải thoát khôn ngoan nào. Đó chính là những sự tương phản - của thiện và ác, đau khổ và hạnh phúc, trí tuệ và sự vô minh - làm cho việc truy tìm giác ngộ và giải thoát là mối quan tâm cực kỳ quan trọng.

Tại cao điểm của hai lập trường đối lập nhau nhị nguyên tính có điều kiện và vô điều kiện: luân hồi là vòng tròn của tái sinh và chết lập đi lập lại trong đó tất cả đều là vô thường, có thay đổi và đưa đến khổ đau, và Niết Bàn là trạng thái giải thoát cuối cùng, không sanh, không già, và không chết. Mặc dù Niết-bàn, chắc chắn là một thực tại tối thượng ngay cả trong những bản văn sơ khai, và không chỉ đơn thuần là một trạng thái đạo đức hay tâm lý, không có chút ngụ ý nào rằng tính chất xác thực này là lý thuyết suông không thể phân biệt được một cách sâu sắc ở một mức độ hoàn hảo nào đó từ sự xuất hiện đối nghịch, luân hồi. Ngược lại, bài học lặp đi lặp lại của Đức Phật là luân hồi là lãnh vực của đau khổ chi phối bởi tham, sân và si, trong đó chúng ta đã tổn hao nước mắt nhiều hơn nước biển, trong khi Niết Bàn là giải thoát khỏi sinh tử, diệt lòng tham, sân và si, và buông bỏ tất cả các sự tạo điều kiện cho sự hiện hữu.

Như vậy, Phật giáo Theravada làm cho sự tương phản của luân hồi và Niết Bàn trở thành điểm xuất phát của toàn bộ cuộc truy cầu giải thoát. Hơn nữa, nó đối xử với sự tương phản này như là hạn định mục tiêu cuối cùng, đó chính là sự siêu việt của luân hồi và đạt được giải thoát trong Niết bàn. Sự khác biệt của Theravada với các trường phái Đại thừa đáng kể, bắt đầu với thuyết nhị nguyên của luân hồi và Niết bàn, sự từ chối quan tâm tính hoàn toàn trái ngược nhau này như chỉ là một bài học thông minh chuẩn bị cho những người tính năng chậm đốn ,để rồi cuối cùng bị thay thế bởi một số nhận thức cao hơn của phi nhị nguyên tính. Dựa vào quan điểm của kinh điển Pali, ngay cả Đức Phật và các vị A La Hán cũng đau khổ và có sự chết, luân hồi và Niết Bàn, vẫn còn khác biệt.

Những người tu tập tâm linh vẫn đang nghiên cứu những truyền thống thiền quán khác nhau thường cho rằng giáo lý tâm linh cao nhất phải là một trong những đòi hỏi một sự thống nhất siêu hình như là nền tảng triết học và mục tiêu cuối cùng của sự truy cầu giác ngộ. Theo giả định này có tính hiển nhiên, họ có thể kết luận rằng kinh điển Phật giáo Pali,với sự nhấn mạnh đánh giá đúng mức tánh nhị nguyên tính, thì thiếu hoặc tạm thời, đòi hỏi sự hoàn thành bởi một sự chứng ngộ phi nhị nguyên tính. Đối với những người có khuynh hướng như vậy, sự hủy bỏ nhị nguyên tính trong sự thống nhất cuối cùng sẽ luôn luôn xuất hiện sâu sắc và đầy đủ hơn.

Tuy nhiên, nó chỉ là giả xử mà tôi đưa ra. Tôi muốn xác nhận rằng, bằng cách tham khảo lời dạy nguyên thủy của chính Đức Phật, điều mà sự sâu sắc và đầy đủ không cần phải đạt được ở giá trị của sự ưu tú, mà chúng có thể đạt được ở mức độ cao nhất trong khi vẫn bảo tồn nhị nguyên tính và tính đa dạng nổi bật hiển nhiên mang tới sự trưởng thành của thế giới.Tôi cũng muốn nói thêm rằng giáo lý mà nhấn mạnh vào việc thừa nhận những tính nhị nguyên thực sự như chúng là cuối cùng đã trở nên thỏa mãn hơn. Lý do là để thỏa đáng hơn, mặc dù chối bỏ mong muốn thống nhất toàn diện của tâm trí, bởi vì nó có tính đến một yếu tố khác gạt qua một bên tầm quan trọng của việc tìm kiếm sự thống nhất. Điều này là "cái gì khác" là sự cần thiết phải giữ nguyên căn cứ vào thực tế.

Như thế nào tôi nghĩ lời dạy của Đức Phật, được bảo tồn trong truyền thống Theravada, vượt qua mọi nỗ lực khác để giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan của nhân loại là sự từ chối liên tục hy sinh thực tại cho sự hiệp nhất. Phật Pháp không chỉ cho chúng ta một sự tuyệt đối bao gồm tất cả trong những căng thẳng của sự sống hàng ngày làm tan đi trong lý thuyết suông tính chất độc nhất hoặc tình trạng rỗng không khó hiểu. Đúng hơn, nó chỉ cho chúng ta, hướng về thực tại như là phạm vi hiểu biết cuối cùng, đối với mọi sự nhận thức đúng theo chân lý (yathabhuta). Trên tất cả, nó đưa ra cho chúng ta về Tứ Diệu Đế: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế con đường tu tập đế chấm dứt như là giải thoát mọi sự như chúng thực sự. Bốn chân lý này, Đức Phật tuyên bố, là chân lý cao quý, và điều gì làm cho những chân lý cao cả chính là chúng là tatha (thực và khách quan), avitatha (không phải là không thật và không phải là khách quan) và anannatha (không thay đổi). Sự thất bại đối mặt với thực tế của những sự thật này đã khiến chúng ta phải lang thang trong suốt quá trình dài của luân hồi. Đó là bằng cách hiểu sâu sắc chính xác những chân lý này như chúng ta có thể đạt tới sự hoàn hảo đích thực của cuộc tìm kiếm tinh thần: chấm dứt khổ đau.

Trong phần tiếp theo của bài viết trước đây, tôi dự định thảo luận về ba lĩnh vực chính của sự khác biệt giữa giáo lý của Đức Phật, mà chúng ta có đề cập đến ở đây như là "Pháp của Bậc Thánh - Ariyan Dhamma" và các triết lý về phi nhị nguyên tính. Những lãnh vực này tương ứng với ba lãnh vực của con đường tu tập đạo Phật - Đức hạnh (giới), thiền định và tuệ.

Đối với đức hạnh, sự khác biệt giữa hai lời dạy không phải là điều hiển nhiên ngay cả khi cả hai đều khẳng định tầm quan trọng của hành vi đạo đức khi bắt đầu tu tập. Sự khác biệt cơ bản rõ nét giữa hai lời dạy, không phải lúc đầu, nhưng chỉ sau đó, theo cách đánh giá vai trò của đạo đức trong giai đoạn tiến triển của con đường tu tập. Đối với các phương pháp phi nhị nguyên tính, tất cả cuối cùng đã vượt qua được trong việc thực hiện sự thực phi nhị nguyên, nền tảng Tuyệt đối hay cơ bản.Khi Thuần túy hoàn thiện và vượt qua tất cả sự đa dạng, đối với những người đã nhận ra sự khác biệt giữa thiện và ác, đạo đức và phi đạo đức, chúng mất giá trị cuối cùng. Như được nói, những phân biệt như vậy, chỉ có giá trị ở cấp độ thông thường, chứ không phải ở cấp độ nhận thức rõ cuối cùng; chúng là bắt buộc đối với những thực tập sinh, chứ không phải là những người tinh thông. Như vậy, chúng ta thấy rằng trong các hình thức lịch sử của chúng (đặc biệt là trong Hindu và Phật giáo Tây Tạng), các triết lý phi nhị nguyên tính cho rằng tư cách của bậc giác ngộ không thể bị giới hạn bởi các quy tắc đạo đức. Vị hiền giả đã vượt qua tất cả những phân biệt thông thường của thiện và ác.Ngài hành xử một cách tự phát từ trực giác Tối Thượng của các Ngài và do đó không còn bị ràng buộc bởi các giá trị quy tắc đạo đức như những người còn đang đấu tranh với quan niệm. Tư cách đạo đức của các Ngài là khó nắm bắt, không thể hiểu được của những gì được gọi là "trí tuệ khôn ngoan."

Đối với Pháp của Bậc Thánh (Ariyan Dhamma), sự phân biệt giữa hai loại hành vi, đạo đức và vô đạo đức, sắc bén và rõ ràng, và sự phân biệt này vẫn tồn tại suốt đời cho đến khi đạt tới sự thành tựu của con đường tu tập: "Thân hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: "Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành" "(MN 114). Đạo đức của vị Thánh mẫu mực,vị A La Hán, nhất thiết phải thể hiện các tiêu chuẩn đạo đức cao nhất trong tinh thần của phẩm hạnh cả hai trong tinh thần và trong văn bản, và cho sự phù hợp của Ngài trong văn bản là tự phát và tự nhiên. Đức Phật nói rằng người được giải thoát đã sống theo luật lệ của Luật tạng, nhìn thấy những nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhất. Vị Thánh Alahán không thể cố ý vi phạm bất cứ hành vi luân lý đạo đức nào, và cũng không bao giờ theo đuổi bất kỳ hành động nào thúc đẩy bởi tham, sân, si, ảo tưởng hay phiền não.

Trong phạm vi thiền quán hoặc thiền định, chúng ta lại tìm thấy một sự khác biệt nổi bật trong quan điểm giữa các phương pháp phi nhị nguyên tính và giáo pháp của Bậc Thánh. Từ đó, đối với các phương pháp phi nhị nguyên, sự khác biệt cuối cùng là không thực tế, thực hành thiền không rõ ràng hướng tới việc loại bỏ các phiền não và tu luyện các trạng thái đạo đức của tâm. Trong các phương pháp này, người ta thường nói rằng phiền não chỉ là sự xuất hiện không có thực tại tâm, thậm chí cả những biểu hiện của Tịch tịnh tuyệt đối - Nirvana. Do đó tham gia vào một chương trình tu tập để vượt qua chúng là một bài tập vô ích, giống như chạy trốn khỏi một con quỷ huyền bí: để tìm cách loại bỏ phiền não là củng cố ảo tưởng về tính nhị nguyên. Các chủ đề thiền định gợn sóng qua những luồng tư tưởng phi nhị nguyên tuyên bố: "Không ô nhiễm và không trong sạch"; "Những Sự ô nhiễm về bản chất cũng giống như sự khôn ngoan siêu việt"; "Đó là bởi niềm đam mê mà niềm đam mê đã được gỡ bỏ."

Trong pháp của các bậc Thánh hành thiền là một tiết trình thanh lọc nội tại tữ khời điểm tới cứu cánh. Quá trình này bắt đầu bằng việc nhận diện ra những nguy hiểm của các tình trạng bất thiện pháp: chúng thật sự làm ô nhiễm chúng ta cần được ngăn ngừa và loại bỏ. Mục đích đạt đến việc diệt trừ hoàn toàn các phiền não thông qua việc bồi dưỡng các việc làm thiện. Toàn bộ quá trình tu tập đòi hỏi một sự nhận thức sự khác biệt giữa sự tối tăm và sự sáng suốt của tâm, và tập trung vào nỗ lực và tinh tấn: "Ngươi không có chấp nhận những tư tưởng bất thiện đã khởi lên, ngươi từ bỏ nó, trừ diệt nó, diệt tận nó, không cho nó tồn tại""(MN 2). Những chướng ngại là "bởi vì không biết, bởi vì vô minh, kiến thức tiêu cực, không dẫn đến Niết-bàn" (SN 46:40). Tu tập thiền định để thanh lọc các chướng ngại của nội tâm, là sự chuẩn bị cho con đường đoạn diệt các lậu hoặc (asavakkhaya).

Cuối cùng, trong lĩnh vực tuệ học, pháp của các bậc Thánh và những phương pháp phi nhị nguyên tánh một lần nữa lại đi ngược nhau. Trong các phương pháp phi nhị nguyên tánh nhiệm vụ của trí tuệ là phá vỡ sự xuất hiện tính đa nguyên (hoặc tính đa nguyên xuất hiện) trong việc nhận ra tính chất hợp nhất xác thực đó làm nền tảng cho chúng. Trong thực tế hiện tượng, sự khác biệt của chúng và đa số của chúng, chỉ là sự hiện diện, trong khi tính chất xác thực là một người nào đó: hoặc là một đấng tuyệt đối (đấng Atman, Phạm Thiên (Brahman), Chúa Trời (Godhead), vv), hoặc một siêu hình học tính không (Tính không (Sunyata), tiếng nói thầm kín của tâm , Vv). Đối với các trường hợp như vậy, sự giải thoát cùng với sự xuất hiện của tính thuần nhất cơ bản trong đó các đối lập hợp nhất và điều khác nhau dễ dàng xóa bỏ.

Trong pháp của các bậc Thánh mục tiêu của sự khôn ngoan là thấy và biết tất cả sự vật như chúng thật sự là (Như thực - yathabhutananadassana). Vì vậy, để biết những sự vật như chúng là, người trí tuệ phải tôn trọng các hiện tượng theo sự chính xác đặc thù của chúng. Người trí tuệ bỏ ngoài tính đa dạng và tính đa nguyên. Thay vì tìm cách khám phá các đặc tính của hiện tượng, để có được cái nhìn sâu sắc về phẩm chất và cấu trúc của chúng. Nó di chuyển, không theo phương hướng của tất cả bao gồm sự đồng hóa với Tất cả, nhưng đối với việc thoát khỏi tất cả và sự vô tư giải thoát khỏi Tất cả. Việc tu tập trí tuệ không hề "làm suy yếu" các hiện tượng cụ thể bằng cách giảm chúng thành hiện thực, và cũng không coi chúng là những cửa sổ mở ra một mặt cơ bản. Thay vào đó tìm hiểu và phân biệt, để hiểu mọi sự việc như chúng thực sự là: "Và điều gì làm hành giả hiểu sự việc chúng thật sự là?". Hành giả hiểu: đó chỉ là sắc, nó đang sinh và đang diệt. Chỉ là thọ .. tưởng ....thức, như thể đang sinh và đang biến mất. " "Khi người đó cảm nhận được," Tất cả các hành đều là vô thường, đều là đau khổ, đều là vô ngã, "người đó sẽ giải thoát khỏi khổ đau: đó là con đường dẫn tới sự thanh tịnh."

Các hệ thống tôn giáo được tô màu bởi những ngụ ngôn được ưa thích của họ như là các giáo lý xây dựng. Đối với các phương pháp phi nhi nguyên tính, hai lối so sánh nổi bật chiếm ưu thế. Một là không gian, vừa bao gồm và vừa thâm nhập mọi vật trên thế giới nhưng tự nó không có nền tảng vững chắc nào hết; Cái kia là đại dương, nó vẫn duy trì tính đặc thù của nó dưới sự thay đổi của muôn ngàn đợt sóngNhững ngụ ngôn được sử dụng trong giáo pháp của bậc Thánh rất đa dạng, nhưng một chủ đề đoàn kết nhiều người trong số họ là tính sắc bén của cái nhìn - cái nhìn phân biệt rõ ràng và chính xác bức tranh toàn cảnh của các cảnh nhìn thấy, mỗi người trong cá tính riêng của nó:> "Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: "Đây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Đây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết như thật: "Đây là khổ... biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!" Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". "(MN 39).

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

Thấy Các Pháp Như Thật - Nyanaponika Mha Thera

Thấy Các Pháp Như Thật

Nguyên tác: Seeing Things As They Are

Tác Giả: Venerable Nyanaponika Maha Thera

Minh Hạnh dịch ngày 10 tháng 6 năm 2005

Nếu quán sát ngay cả một khoảng nhỏ nhoi trong phạm vi rộng lớn của đời sống, chúng ta đối diện với nhiều hình thức sống động khác nhau, bao quát đến nổi không sao diễn tả hết. Tuy nhiên ba đặc điểm căn bản có thể được nhận thức như là chung cho các pháp có tri giác, từ một con vi khuẩn đến loài người, từ những cảm giác đơn sơ nhất đến những tư tưởng của một thiên tài sáng tạo.

- Vô thường hoặc là sự thay đổi

- Khổ hoặc là sự bất mãn.

- Vô ngã hoặc là không có thực chất.

Ba sự thật căn bản này đã được Đức Phật- Bậc hiểu biết thế gian ( Lokavidū - Thế gian giải) tìm thấy đầu tiên và giải rõ trên 2500 năm trước.Trong thuật ngữ nhà Phật, chúng được gọi là là tam tướng ( ti-lakkhana) - những tướng hoặc dấu hiệu cố định của các pháp sinh thành, "tam tướng này" đã ghi dấu ấn ngay trên bộ mặt của đời sống.

Vô thường và vô ngã trong tam tướng áp dụng trực tiếp vào sự sống vô tri cũng như hữu tri, vì mỗi thực thể cụ thể do chính bản chất của nó phải chịu sự thay đổi và không có thực chất. Khổ, đặc điểm thứ hai dĩ nhiên chỉ là kinh nghiệm cho loại hữu tình. Nhưng Đức Phật áp dụng tướng khổ cho tất cả pháp hữu vi, trong ý nghĩa rằng, đối với chúng sanh, các pháp do duyên sanh là một nhân tiềm tàng của kinh nghiệm đau khổ và trong bất cứ trường hợp nào đều bất lực trong việc kéo dài sự thỏa mãn. Do vậy cả ba pháp thật sự là những tướng phổ biến thuộc về kể cả những gì bên dưới hoặc vượt lên trên phạm vi nhận thức bình thường của chúng ta.

Đức Phật dạy rằng đời sống chỉ có thể được hiểu đúng nếu những sự thật căn bản trên được thấu hiểu và trí này phải hiện khởi, không những về mặt luận lý, mà còn phải đối đầu với kinh nghiệm bản thân. Trí tuệ minh sát là yếu tố giải thoát cơ bản trong đạo Phật, chủ yếu ở sự chứng nghiệm ba tướng này, khi ta áp dụng vào tiến trình danh sắc, được đào sâu và già dặn hơn trong thiền quán.

Thấy các pháp như thực nghĩa là thấy chúng một cách nhất quán căn cứ vào tam tướng. Không thấy chúng theo cách này, hoặc tự đánh lừa về thực tại và phạm vi ứng dụng chúng, là dấu hiệu xác định của vô minh và tự bản thân vô minh là nguyên nhân tiềm tàng của đau khổ, nó đang dệt mạng lưới mà con người mắc kẹt vào - mạng lưới của những hy vọng hư ngụy, những ham muốn hão huyền và tai hại, những ý hệ lừa dối và mạng lưới của những giá trị và mục đích sai lạc.

Sự tảng lờ hoặc xuyên tạc ba sự thật căn bản cuối cùng chỉ dẫn tới chán nản, thất vọng và tuyệt vọng. Nhưng nếu chúng ta học hỏi để nhìn xuyên thấu những vẻ ngoài lừa dối và quán chiếu tam tướng, điều này sẽ tạo ra lợi ích bao la, vừa là trong đời sống hằng ngày vừa là trong sự phấn đấu nội tâm của chúng ta. Ở mức độ hợp thế, sự liễu tri về vô thường, khổ và vô ngã sẽ mang lại cho chúng ta một cách nhìn lành mạnh hơn về đời sống. Nó sẽ giải thoát chúng ta khỏi những mong cầu hão huyền, ban cho ta lòng can đảm chấp nhận khổ đau và thất bại, bảo vệ ta chống lại sự quyến rũ của những giả thuyết và tin tưởng lừa dối.. Trong sự truy tìm siêu thế, trí về tam tướng sẽ là rất cần thiết. Kinh nghiệm thiền quán về tất cả hiện tượng khi gắn liền với tam tướng sẽ buông xả và cuối cùng cắt đứt những ách phược buộc trói chúng ta vào một sanh hữu mà chúng ta vọng tưởng là thường, lạc và ngã. Với tỉnh giác phát triển, tất cả pháp bên trong và bên ngoài sẽ được thấy theo thực tính của chúng : thay đổi không ngừng, ràng buộc với khổ và không có cốt lõi, không có một linh hồn trường cửu hoặc thực chất không thay đổi. Do thấy như vậy, ly tham sẽ phát triển, mang lại sự giải thoát vĩ đại ra khỏi ngã chấp và đưa tâm đến cứu cánh Niết bàn, chấm dứt đau khổ.

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

Trường hợp Pháp Học - Bhikkhu Bodhi

Trường hợp Pháp Học - The Case for Study 

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Việt dịch - Minh Hạnh, dịch ngày 8-9-2017

Sự gia tăng  việc quan tâm đến Phật giáo gần đây của cả Tây Phương và Đông Phương, đã được đánh dấu bởi việc tu tập nhiệt thành và sự khuyến khích để tìm thấy sự thanh tịnh và tự tại mà việc tu tập Phật Giáo đã dẫn tới. Tuy nhiên, sự nhiệt thành này đối với việc tu tập thường đi kèm với một đặc điểm khác có thể không có hiệu quả, đó là, xu hướng bỏ bê hoặc thậm chí làm giảm đi sự nghiên cứu có phương pháp về giáo lý của Đức Phật. Các sự tranh cãi đưa ra để bảo vệ xu hướng này đã trở thành phố biến quen thuộc trong số chúng ta. Điều đó nói rằng, thí dụ, pháp học  liên quan đến các ngôn từ và khái niệm, nó không thực tế; Điều đó chỉ dẫn đến kiến thức chứ không phải là tuệ; Điều đó chỉ có thể thay đổi ý tưởng của chúng ta nhưng không thể chạm vào chúng ta ở những tầng sâu trong cuộc sống của chúng ta. Để chấp nhận sự thật lời giảng dạy của Đức Phật đã được ghi lại, với  lời khẳng định nổi tiếng của Ngài rằng học  nhiều mà không thực hành cũng giống như việc đếm bò của người khác hoặc như một người đội cái bè trên đầu thay vì sử dụng nó để vượt qua suối.

Sự tranh luận  này, chắc chắn, nó có khía cạnh của nó về chân đế, nhưng cũng chịu từ tầm quan trọng một chiều mà có thể cản trở hơn là hỗ trợ sự tiến bộ của chúng ta trên con đường tu tập Phật giáo. Điều chắc chắn là  học mà không thực hành thì không có kết quả, nhưng mặt khác hành mà không học cũng cần phải xem xét. Nếu một người nuôi bò anh ta không biết cách chăm sóc chúng? Liệu anh ta có thể vượt qua một con sông thô và nguy hiểm mà không biết cách xử dụng một cái bè? Chính Đức Phật cũng nhấn mạnh rằng các đệ tử của Ngài học giáo pháp và truyền bá giáo Pháp trong cả văn bản và tinh thần, hơn là  các sự trình bày rõ ràng chính xác truyền thống  quyến rũ, chúng ta hãy tự hỏi bản thân mình về giá trị và chức năng của sự nghiên cứu Pháp ngữ.

Điểm cốt yếu đưa ra là, phải cố gắng nhiều, không đơn giản là nghiên cứu như có tính chất rèn luyện trí óc hoặc sự tích tũy sự giàu kiến thức ,nhưng việc thu nhận được  vững chắc và kiến ​​thức làm việc  có thể tin cậy được của các giáo lý Phật giáo cơ bản. Bây giờ để xem lý do tại sao điều này là cần thiết, chúng ta phải nhớ lại rằng toàn bộ tu tập của con đường Phật giáo thật sự phát triển  ra ngoài hành động mà qua đó chúng ta đi vào con đường tu tập - Quy Y Tam Bảo. Nếu chúng ta thực hiện bước này một cách trung thực, với động lực chính xác, nó ngụ ý rằng chúng ta đã thừa nhận nhu cầu của chúng ta về hướng dẫn tâm linh và đã giao phó chúng ta cho Đức Phật như là vị hướng dẫn của chúng ta và sự giảng dạy của Ngài như là phương tiện dẫn dắt chúng ta. Bằng cách qui y  Pháp, chúng ta chấp nhận không chỉ  là việc hành thiền mà chúng ta có thể thoải mái dùng vào những mục tiêu riêng của chúng ta như là một giáo huấn sâu sắc và toàn diện về bản chất thực sự của điều kiện con người, một giáo lý có chủ ý đánh thức chúng ta  một nhận thức về chân lý này như là phương tiện để đạt được ở mức độ cao nhất và chấm dứt khổ đau. Pháp đưa ra sự giải thoát, không phải chỉ đơn giản là thực hành thiền định trong bối cảnh của những định kiến ​​và ham muốn của chúng ta, mà từ việc thực hành dựa trên nền tảng của chánh kiến và chánh tư duy mà Đức Phật truyền dạy cho chúng ta.

Đặc tính nhận thức này của con đường tu tập Phật giáo nâng cao học thuyết pháp học và phân tích  nhận thức đến một vị trí có tầm quan trọng lớn. Mặc dù kiến thức thông suốt giúp tâm trí thoát khỏi sự ràng buộc chỉ hiện ra từ cái nhìn sâu sắc trực quan chứ không phải từ các một số học thuyết của các cơ sở lập luận,sự hiểu biết chính xác luôn phát triển dựa trên khái niệm nắm bắt sơ bộ về các nguyên tắc cơ bản cần thiết cho chánh kiến, trong sự vắng mặt của cái mà nó tăng trưởng sẽ không tránh khỏi bị cản trở. Sự pháp học  và quán sát có phương pháp thông qua đó chúng ta đạt đến chánh kiến  mở đầu nhất thiết liên quan đến các khái niệm và ý tưởng. Nhưng trước khi chúng ta vội vã bỏ qua việc học Phật Pháp vì đó chỉ là một việc làm vô giá trị,  chúng ta hãy để ý rằng những quan niệm và ý tưởng đó là những phương tiện không thể thiếu của chúng ta trong việc hiểu biết và đối thoại. Tuy nhiên, quan điểm có thể là phương tiện có căn cứ  và không có căn cứ của sự hiểu biết; Ý tưởng có thể hiệu quả hoặc vô ích, có khả năng mang lại lợi ích to lớn hoặc gây ra thiệt hại to lớn. Mục đích của việc học Phật Pháp như là một phần của nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta là học cách nhận thức thấu đáo kinh nghiệm của chúng ta một cách chính xác: để có thể phân biệt cái giá trị từ cái không có giá trị, điều đúng từ cái sai lầm, sự lành mạnh từ cái không lành mạnh.

Bằng cách thực hiện một cuộc thẩm định toàn diện và cẩn thận thì chúng ta mới có thể đạt được một vị thế để loại bỏ việc có hại tới sự phát triển của chúng ta và để chúng ta dấn thân với niềm tin tuyệt đối vào sự gặt hái cái thật sự có lợi ích. Không  đạt đến sự nhận thức rõ ràng bước khởi đầu này, không phát triển mạnh trong việc "trải rộng quan điểm của chúng ta" thì thực sự có là hành trì nghiêm túc kỹ thuật Thiền Phật Giáo, nhưng điều đó sẽ không là sự hành trì Thiền Định thích hợp với toàn bộ con đường tu tập Bát Chánh Đạo. Và trong khi những sự tu tập thiền không có nền tảng có thể mang lại cho những hành giả lợi ích phàm tục của sự tĩnh lặng, kiến thức và sự buông xả cao hơn, thiếu sự hướng dẫn của chánh kiến và động cơ thúc đẩy của chánh tinh tấn, nó là điều đáng nghi ngại là liệu nó có thể dẫn đến sự thấu hiểu sâu sắc Phật Pháp, hay đạt đến mục đích cuối cùng, sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau không.

Hầu như không thể đưa ra một lời khuyên nào về vấn đề Pháp Học áp dụng cho tất cả những người theo Phật Pháp. Nhu cầu và sở thích thay đổi rất nhiều từ người này sang người khác mà mỗi người sẽ phải đề ra sự cân bằng giữa pháp học  và pháp hành cho phù hợp với khuynh hướng của chính mình. Tuy nhiên, điều chắc chắn rằng có thể nói tất cả những ai nghiêm túc  hành tri đời sống theo Phật Pháp sẽ tìm thấy sự tu tập của họ được củng cố bằng phương pháp pháp học của Đức Phật. Dĩ nhiên, như sự quyết tâm sẽ không dễ dàng, nhưng nó chỉ là thông qua sự đối mặt và những thách thức mà chúng ta gặp điều đó sự hiểu biết của chúng ta sẽ chín muồi và trưởng thành trong trí tuệ cao hơn.

Nguồn: http://www.phapluan.net/DieuPhap/access_to_insight/tacgia.htm

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

Ai sống một trăm năm, Không thấy Pháp Tối thượng - Bhikkhu Bodhi

Ai sống một trăm năm, Không thấy Pháp Tối thượng, Tốt hơn sống một ngày, Thấy được Pháp Tối thượng 
Better Than a Hundred Years -

By Bhikkhu Bodhi - 2005

Việt dịch - Minh Hạnh - 24-6-2017

Nguồn: http://www.phapluan.net/DieuPhap/access_to_insight/tacgia.htm


Một ngày không lâu trước đây tôi đã trả lời một cuộc phỏng vấn qua hệ thống truyền thanh với một người theo học thuyết tương lai (nhà tiên tri) người Mỹ (American Futurist) với tên mà tôi nghe không rõ. Chữ futurist này chỉ cho một người nghiên cứu về dự đoán tương lai. Bằng cách thu thập một số lượng lớn thông tin về sự phát triển hiện tại đang diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ông đã khám phá ra những khuynh hướng đáng chú ý nhất trong công việc dưới bề mặt của các trường hợp, và bằng cách ước tính từ những khuynh hướng này ông đã xây dựng một hình ảnh về một tương lai trong các khoảng thời gian dài - dài cả thập kỷ, thế kỷ và thiên niên kỷ kế tiếp. Lẽ tự nhiên, khi khoảng cách thời gian từ hiện tại gia tăng, những hình ảnh ông tưởng tượng càng nhiều thì càng sai lầm nhiều hơn; tuy vậy yếu tố phỏng đoán là không thể tránh được trong tất cả các sự tiên đoán lâu dài, những gì mà người tiên tri giữ được là các dự đoán của ông dựa hoàn toàn vào quỹ đạo mà chúng ta đang đi dọc theo ngày nay. 

Những câu hỏi mà người phỏng vấn đặt ra đã được khai thác từ người tiên tri một hình ảnh đáng ngạc nhiên về những điều sắp xảy ra. Trong quan điểm lạc quan của ông, những căn nguyên đau khổ rất lâu năm của con người sẽ mang lại sức ép nhất định do tính chất khéo léo và tính quả quyết của chúng ta tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn. Vào thế kỷ tiếp theo sẽ mở ra kỷ nguyên phát triển đột phá, sự phồn vinh và sự công bằng, với những thay đổi cấp tiến xảy ra ngay cả trên các giới hạn sinh học căn bản nhất. Những cặp vợ chồng nào muốn có con sẽ không còn phụ thuộc vào các quá trình tự nhiên có thể bị tổn thương bởi số phận và bi kịch: họ sẽ có thể quyết định các nét đặc trưng chính xác mà họ muốn con mình có và họ sẽ có được chính xác những gì họ muốn. Khoa học y khoa sẽ tìm ra cách điều trị bệnh ung thư, bịnh AIDS, và các chứng bệnh khiếp đảm khác, trong khi hầu như mọi cấu trúc sinh học quan trọng sẽ được thay thế bởi một bộ phận tương ứng nhân tạo. Các nhà sinh vật học sẽ khám phá ra làm thế nào để ngăn chặn quá trình lão hóa, cho phép chúng ta duy trì sự trẻ trung và khả năng tồn tại lâu dài trong những năm tháng cuối cùng. Vào cuối thế kỷ kế tiếp đời sống của loài người sẽ kéo dài 140 năm. Và trước khi thiên niên kỷ tiếp theo kết thúc, khoa học sẽ tìm ra chìa khóa của sự bất tử: "Đó là một trăm phần trăm," ông ta đoan chắc với chúng tôi.

Trong khi tôi lắng nghe người đàn ông có kiến thức, phát âm rõ ràng và nói huyên thuyên này về sự sống lạc quan như vậy, tôi có cảm giác một sự bất an đang day dứt trong lòng tôi. "Hình ảnh này có cái gì sai trái vậy?" Tôi luôn tự hỏi mình, "Có cái gì đó còn thiếu? Cái gì làm mình bận tâm?" Ở đây ông ta đã mô tả một thế giới trong đó loài người sẽ chiến thắng mọi báo ứng thời quá khứ, có lẽ ngay cả sự chết; Và tôi cảm thấy rằng tôi không thể đầu tư vào, vì rằng tôi thích đời sống khốn khổ, dễ vỡ, dễ bị tổn thương này, bản tính cuộc sống đã mang lại cho chúng ta từ khi sinh ra. Tại sao?

Đối với một điều, nó dường như làm tôi thấy rằng hình ảnh rực rỡ về tương lai của ông ta phụ thuộc vào một số tưởng tượng khá lớn. Những tưởng tượng chỉ có thể thực hiện được bằng cách làm ngơ trước những khuynh hướng khác trong hiện nay nó xa vời với cách làm cho mình cảm thấy dễ chịu. Ông ta đã đoán trước rằng những tiến bộ trong kỹ thuật học sẽ chỉ mang lại những lợi ích mà không tạo ra những rắc rối mới ghê gớm như những điều trước đã làm khó chúng ta hôm nay; bằng sự thông minh thực tế, chúng ta có thể chỉnh sửa những sai lầm cũ mà không cần phải kềm chế sự tham lam gây ra những sai lầm đó ngay lúc ban đầu; như thế người ta sẽ tự nguyện đặt lợi ích chung lên trên sự thúc đẩy của tính tham lam thường tình; vì rằng sự phát triển của sự giàu có vật chất sẽ đủ để loại trừ sự hoài nghi, sự căm ghét, và tính ác nghiệt mà đã tạo ra rất nhiều đau khổ trong suốt chiều dài của lịch sử.

Tuy nhiên, tôi tiếp tục suy nghĩ sâu xa, tôi nhận thức rằng đây không phải là tất cả những gì làm tôi bận tâm về những sự tưởng tượng của người tiên tri; Tôi cảm thấy có một điều gì đó hỗn tạp vẫn còn nằm sâu trong tâm tôi. Ở sự khởi đầu của nó, tôi nhận ra, trạng thái bất an hoặc lo lắng của tôi quan tâm xung quanh kết quả của sự định hướng. Sự tưởng tượng ông ta cho thấy một tương lai, trong đó loài người hoàn toàn đắm chìm trong những lợi lộc thế tục, mải mê trong cuộc chiến chống lại những hạn chế thiên nhiên, hướng hoàn toàn vào thế giới của vật chất. Cái rõ ràng thiếu trong sự tưởng tượng của ông ta là cái có thể gọi "tính năng siêu việt" Ở đó không có dấu hiệu nào cho rằng sự tồn tại của con người không phải là một vòng tròn khép kín từ đó nó mang ý nghĩa của nó, rằng việc tìm kiếm cho việc hoàn thành thực sự đòi hỏi sự tham khảo đến một phạm vi vượt khỏi mọi thứ hạn chế và phi vật chất.

Bằng cách xóa bỏ tất cả điều nói đến một "tính năng siêu việt", người tiên tri có thể miêu tả sinh động một nhân loại bảo đảm với khái niệm sự lợi ích tối hậu là nhận thức rõ bằng cách đạt được sự hiểu biết về thế giới bên ngoài thay vì làm chủ chính mình. Theo quan điểm đời sống con người cuộn vào đau khổ, và những đau khổ phát sinh từ xung đột giữa ham muốn của chúng ta và nhu cầu tự nhiên của thế giới, chúng ta có thể giải quyết đau khổ bằng cách hoặc là thay đổi thế giới để nó phù hợp với ham muốn của chúng ta hoặc bằng cách thay đổi bản thân để các ham muốn của chúng ta hòa hợp với thế giới. Ý tưởng được mô tả bởi người tiên tri cho thấy một tương lai trong đó sự lựa chọn đầu tiên được thuyết phục; tuy nhiên Đức Phật, và tất cả các bậc thầy tâm linh vĩ đại khác của loài người, đều thống nhất với lời khuyên cho đường lối thứ hai. Đối với họ công việc của chúng ta không phải là thao tác các điều kiện bên ngoài chịu trách nhiệm cho sự bất mãn của chúng ta như là để vượt qua những căn nguyên chủ quan của sự không hài lòng, để chế ngự lòng ích kỷ, sự tham dục, và sự vô minh của chính chúng ta. 

Trong sự lựa chọn cách tiếp cận cổ xưa hơn tôi không muốn khuyến khích chúng ta phải thụ động chấp nhận tất cả những nhược điểm mà cuộc sống con người bị tổn thương. Thẳng thắn từ chối chắc chắn không phải là câu trả lời. Chúng ta phải cố gắng để loại bỏ các căn bệnh làm suy nhược, để thúc đẩy kinh tế và công bằng xã hội, để xây dựng một thế giới trong đó các tiện nghi cơ bản về sức khoẻ và hạnh phúc được phân phối rộng rãi nhất có thể chịu đựng được. Tuy nhiên, khi cuộc chạy đua cơ khí của nền văn minh đổi mới trong kỹ thuật thì chúng ta có nguy cơ mạo hiểm vào những khu vực nguy hiểm. Để chống lại với sự càn rở của nhà khoa học Hy Lạp Promethean muốn khuất phục thiên nhiên theo ý của mình để diệt trừ tất cả các nguyên nhân đối tượng của sự đau khổ của chúng ta điều này như là một việc làm ngạo mạn - kiêu căng và phỏng đoán - và, như chúng ta biết từ bi kịch của Hy Lạp, sự kiêu căng láo xược sẽ không tránh khỏi cơn thịnh nộ của các vị Thần.

Ngay cả việc chúng ta liều lĩnh can thiệp vào định luật thiên nhiên cũng không tránh được những thiên tai kinh hoàng, chúng ta vẫn có nguy cơ suy sụp từ từ vào việc coi nhẹ và cơ giới hóa đời sống loài người. Về tiêu chuẩn tiến bộ bằng cách tạo ra tính chất kỹ thuật tinh vi chúng ta đánh mất chiều sâu đạo đức và độ cao của cá nhân cái mà luôn luôn là dấu hiệu cổ điển cao qúy của loài người. Chúng ta dẹp bỏ sự cách biệt cao thấp của chúng sinh, làm giảm chính chúng ta xuống bằng mặt phẳng hoàn toàn mà trong đó thì những chuyện đáng chú trọng là kinh nghiệm kỹ thuật và hiệu quả tổ chức . Qua đó chúng ta đã gần hơn với tình huống được mô tả bởi nhà thơ và là nhà phê bình văn học người Anh, ông T.S. Eliot, "sự nghiệp của chúng không kết thúc với tiếng vang, mà là với tiếng thút thít." 

Trong khi tôi suy nghĩ sâu xa về những tiên đoán của nhà tiên tri, một số câu kệ Kinh Pháp Cú đã gợi ý một hình ảnh khác biệt nổi bật về vấn đề mà chúng ta phải đối mặt trong cuộc sống của chúng ta. Các câu trong "Phẩm Muôn Ngàn", câu kệ 110 đến câu 115. Bốn câu đầu nói rằng dù chúng ta sống bao lâu, cách sống của chúng ta thế nào, những phẩm chất chúng ta thể hiện sẽ ở trong chúng ta:

 "Dù sống đến trăm năm, 
Phóng túng, không thiền định, 
Chẳng bằng sống một mình, 
Giới tịnh và thiền tịnh. 
Trăm năm sống ở đời ,
 Ác tuệ, không thiền định,
 Không sánh với một ngày,
 Có trí, có thiền định.
 Ai sống trọn kiếp người,
 Biếng nhác không tinh tấn,
 Chẳng sánh được một ngày, 
Nỗ lực tận khả năng. 
Sống trọn kiếp trăm năm, 
Không thấy pháp sanh diệt, 
Chẳng bằng chỉ một ngày,
 Lẽ vô thường thấu triệt.. "

(Kinh Pháp Cú 110-113 TT Giác Đẳng dịch Việt)

Những câu kệ này Đức Phật dạy nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta, nhiệm vụ mà tất cả những điều khác phải hổ trợ, đó là làm chủ chính mình. Nhiệm vụ khó khăn mà Đức Phật đưa ra không phải là trừ khử tất cả những trở ngại xuất hiện trong đời sống chúng ta, nhưng để bảo vệ , để chế ngự những ham muốn gây nên đau khổ cho chúng ta ở chính nơi chúng sinh ra: trong tâm của chúng ta. Cũng vậy cuộc sống của chúng ta điều khiển bởi tham dục, sẽ không bao giờ hết sự bất mãn, vì việc loại bỏ một trở ngại nó chỉ tạo ra một cái mới trong một chu trình lập lại. Điều thiết yếu không phải là để kéo dài cuộc sống bằng cách điều chỉnh các quy trình sinh học để chúng hoàn thành những giấc mơ hoang dại của chúng ta, nhưng để làm cao qúy cuộc sống bằng cách tu tập cho tâm hồn được tĩnh lặng trong giới hạn khiêm tốn của điều kiện tự nhiên của chúng ta.Và điều này đã đạt được, như Đức Phật nhấn mạnh nhiều lần, bởi ba sự rèn luyện về đạo đức, thiền định, và sự quán chiếu sâu sắc vào sự vô thường của tất cả các pháp hữu vi. 

Hai câu kệ Pháp Cú cuối 114 và 115 nói về điểm tu tập, đây cũng là mục đích hướng tới cuộc sống của chúng ta: 

"Ai sống một trăm năm, 
Không thấy câu bất tử, 
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử. 
Ai sống một trăm năm, 
Không thấy Pháp Tối thượng,
 tốt hơn sống một ngày,
 Thấy được Pháp Tối thượng."

(Kinh Pháp Cú 114-115 TT Giác Đẳng dịch Việt)

 Nếu tiến bộ của con người không phải là một tranh luận đơn giản về những phô trương công nghệ nhằm vào mục đích hoán cải giới hạn tự nhiên của chúng ta, chúng ta cần có những sáng kiến để làm la bàn cho cuộc sống của chúng ta, những cái cho phép chúng ta vượt qua ranh giới sống chết. Đối với Phật giáo điều đó là Niết Bàn, sự bất tử, Chân Lý Tối Cao, là tình trạng vượt qua mọi điều kiện giới hạn khác. Nếu không có yếu tố siêu việt này, chúng ta có thể đi lang thang đến nơi vô định và chìm trong hoang tưởng cuộc sống của chúng ta sẽ vẫn trống rỗng. Sự trọn vẹn của ý nghĩa chỉ có thể đến từ căn nguyên ý nghĩa, từ điều siêu việt và vô điều kiện. Để phấn đấu cho mục tiêu này là tìm ra một giá trị sâu sắc và một đỉnh cao của sự xuất sắc mà không bao giờ có thể được bình đẳng bởi một công nghệ táo bạo vô cảm. Để thực hiện mục đích này là để chấm dứt khổ đau: để tìm thấy sự bất tử ở đây và ngay bây giờ, thậm chí ở giữa thế giới không hoàn hảo này vẫn luôn luôn phải đối mặt với tuổi già, bệnh tật và cái chết. 

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Phương Pháp Cân Bằng - Bhikkhu Bodhi

Phương Pháp Cân Bằng
 The Balanced Way 

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Nguồn: http://www.phapluan.net/DieuPhap/access_to_insight/tacgia.htm

Việt dịch - Minh Hạnh , ngày 24-5-2017

Giống như loài chim bay xa nhờ vào hai cánh của chúng, sự thực hành Giáo Pháp giữ vững được do hai định tính tương phản mà sự phát triển cân bằng là chủ yếu cho sự chân thật và phát triển vững chắc . Hai phẩm chất này là sự quên mình và lòng từ bi. Trong khi lý thuyết xuất gia Phật Pháp chỉ ra con đường dẫn tới sự giải thoát là một tiến trình rèn luyện bản thân tập trung vào việc kiểm soát từ từ và khắc phục tham vọng, nguyên nhân của đau khổ . Trong khi lời giảng dạy về lòng từ bi, Phật Pháp đề nghị chúng ta tránh làm tổn hại người khác, hành xử vì hạnh phúc của họ, và thực hiện được quyết định tuyệt vời của Đức Phật để cống hiến cho thế giới con đường đến sự bất tử.

Được xem xét trong sự đơn điệu, sự quên mình và lòng từ bi có những lôgic nghịch đảo mà dường như chỉ chúng ta theo những hướng trái ngược nhau. Một hướng dẫn chúng ta tới mức độ tĩnh mịch nhằm thanh tịnh bản thân, và hướng kia nhằm tăng trưởng sự tham dự với những hướng khác trong hành động lợi ích cho chúng sanh. Tuy nhiên, không kể sự khác biệt của chúng, sự quên mình và lòng bi mẫn hỗ trợ nhau trong năng nổ tác động lẫn nhau suốt quá trình tu tập, từ những bước cơ bản đạo đức đến đỉnh cao của sự giải thoát trí tuệ. Sự kết hợp của hai, sự liên kết cân bằng của chúng, được thể hiện một cách hoàn hảo nhất qua hình ảnh của Đấng Toàn Giác, người hiện thân của sự quên mình hoàn toàn và của lòng bi mẫn.

Cả hai sự quên mình và lòng bi mẫn đều dự phần vào cội nguồn thông thường gặp phải với khổ đau. Điều này tương ứng với phản ứng của chúng ta đối với đau khổ phải đối mặt qua kinh nghiệm cá nhân của chúng ta, hoặc phản ứng của chúng ta đối với đau khổ được chứng kiến trong cuộc sống của người khác. Tuy nhiên, các phản ứng tự phát của chúng ta chỉ là những hạt giống của những phẩm chất cao hơn điều này, chứ không phải thực chất của chúng.Để đạt được năng lực để duy trì việc thực hành Pháp của chúng ta, sự quên mình và lòng bi mẫn phải được trau dồi một cách có phương pháp, và điều này đòi hỏi một quá trình quán tưởng liên tục làm biến đổi những sự kích động ban đầu của chúng ta thành những đức tính tinh thần trọn vẹn.

Trong cấu trúc sự quán tưởng này để rèn luyện là giáo lý Tứ Diệu Ðế điều mà cung cấp khuôn khổ học thuyết chung cho sự quên mình và lòng bi mẫn. Sự quên mình được phát triển do từ sự thúc đẩy bẩm sinh của chúng ta để tránh phiền não và khổ đau. Nhưng trái lại sự thúc đẩy này, trước khi suy nghĩ, dẫn đến loại bỏ sự lo lắng từ những tình huống đặc biệt được coi là đe dọa cá nhân, sự suy ngẫm cho thấy mối nguy căn bản nằm trong tình huống hiện tại của tự nó --- Bị ràng buộc bởi vô minh và tham dục trong một thế giới vốn đã đáng sợ, đầy dãy sự lừa dối và không đáng tin cậy. Từ đó, động cơ chủ yếu đằng sau hành động quên mình là ước mong tự do tâm linh, cùng với sự công nhận rằng sự thanh tịnh hóa bản thân mình là một nhiệm vụ bên trong dễ thực hiện nhất khi chúng ta xa rời khỏi những hoàn cảnh bên ngoài từ nuôi dưỡng khuynh hướng không lành mạnh của chúng ta.

Sự phát triển lòng bi mẫn phát ra từ những cảm giác đồng cảm của chúng ta với người khác. Tuy nhiên, như một đức tính từ bi tinh thần không thể được đặt ngang hàng với một cảm tính tình cảm , cũng không nhất thiết ngụ ý một lời tuyên bố để làm hại mình trong hoạt động vị tha. Mặc dù lòng bi mẫn rõ ràng bao gồm sự cảm thông xúc cảm và thường thể hiện trong hành động, nó chỉ trưởng thành hoàn toàn khi được hướng dẫn bởi trí tuệ và bình tỉnh do sự buông bỏ. Trí tuệ tạo điều kiện cho chúng ta vượt qua những sự rủi ro bất định mà chúng sinh có thể tạm thời bị ảnh hưởng đến chiều sâu và những yếu tố khổ đau tiềm ẩn không thể tách rời khỏi điều kiện hiện hữu.Như là một sự hiểu biết hoàn toàn và bao hàm toàn diện về Tứ Diệu Ðế, trí huệ đã mở ra cho chúng ta phạm vi rộng lớn, mức độ đa dạng, và nguồn gốc sâu xa của những đau khổ mà bất cứ sinh linh nào trong chúng ta cũng phải gánh chịu, cũng như các phương tiện để dẫn họ thoát khỏi khổ đau.Từ đó các dấu hiệu về sự thương cảm tự phát và lòng bi mẫn chín chắn thường mâu thuẫn,và chỉ những điều sau là hoàn toàn đáng tin cậy như những hướng dẫn của hành động ích lợi có hiệu quả tuyệt cao .Mặc dù thường xuyên thận trọng rèn luyện lòng bi mẫn sẽ đòi hỏi chúng ta phải hành động hoặc nói ra, đôi khi việc này có thể khuyên chúng ta phải yên lặng tĩnh tâm và cô lập như là tiến trình có lợi nhất cho những lợi ích lâu dài của người khác cũng như của chính chúng ta.

Trong sự cố gắng đi theo giáo Pháp, một trong hai công đức chủ yếu này phải được chú ý đặc biệt, tùy thuộc vào tính khí và hoàn cảnh của chúng ta. Tuy nhiên, đối với tu sĩ và cũng như cư sĩ tại gia, sự thành công trong việc phát triển con đường tu tập đòi hỏi cả hai phải quan tâm thích đáng và những thiếu sót trong từng bước phải được khắc phục. Theo thời gian chúng ta sẽ thấy rằng hai điều sự quên mình và lòng bi mẫn, mặc dù nhắm tới hướng khác nhau, cuối cùng là tăng thêm sức mạnh lẫn nhau. Lòng bi mẫn thúc đẩy chúng ta hướng tới sự quên mình lớn hơn, như chúng ta biết sự tham lam và luyến ái làm cho chúng ta trở nên nguy hiểm cho người khác.Và sự quên mình thúc đẩy chúng ta hướng tới sự bi tâm lớn hơn, vì việc từ bỏ ái dục giúp chúng ta chuyển đổi những quan điểm hẹp của cái tôi cho những quan điểm rộng lớn hơn của một tâm thông cảm vô bờ bến. kết hợp cùng nhau trong sự hỗ tương làm tăng thêm sự vững chắc, sự quên mình và lòng từ bi góp phần vào sự cân bằng trọn vẹn của con đường tu tập Phật giáo và mang đến sự hoàn thiện của kết quả cuối cùng của nó.

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Thân Cận Bậc Trí Hiền - Bhikkhu Bodhi

Thân Cận Bậc Trí Hiền
Association with the Wise 

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Nguồn: http://www.phapluan.net/DieuPhap/access_to_insight/tacgia.htm

Việt dịch - Minh Hạnh , ngày 26-4-2017

Kinh Maha-Mangala, là kinh Đại Phước Lành, một trong những bài kinh Phật giáo phổ biến nhất, nằm trong các bài kinh điển thiêng liêng tiêu chuẩn của kinh điển Pali. Bắt đầu bài kinh khi một vị Trời dung sắc thù thắng với hào quang chiếu diệu, đã xuống thế gian trong một đêm tĩnh lặng, đến đảnh lễ Đức Phật tại Jeta Grove (Kỳ Viên) và hỏi về con đường mang đến những phước lành cao thượng. Trong đoạn kệ đầu tiên Đức Phật trả lời, Ngài tuyên bố rằng phước lành cao thượng đến từ việc Không gần gũi kẻ ác và Thân cận bậc trí hiền (asevana ca balanam, panditanan ca sevana).Từ đó cho đến hết phần còn lại của bài kinh tiếp tục trình bày tất cả các khía cạnh khác nhau của những điều mang lại hạnh phúc con người, kể cả loài người và chư thiên, thì sự quy cho việc thân cận bậc trí hiền là bài kệ mở đầu đã nhấn mạnh đến một điểm then chốt: đó là sự tiến triển dọc theo con đường tu tập Giáo Pháp xoay quanh việc đưa ra những lựa chọn đúng đắn trong tình bạn của chúng ta.

Trái ngược với các học thuyết tâm lý nhất định, tâm trí con người không phải là một buồng đóng kín bao bọc một nhân cách không thay đổi được hình thành bởi sinh học và kinh nghiệm còn trứng nước. Chính xác hơn, trong suốt cuộc đời tâm con người là một thực thể tự nó dễ uốn nắn liên tục để đáp ứng những ảnh hưởng xã hội nơi nó sinh sống. Tránh xa không giao thiệp với những người cố chấp và không chịu thay đổi, những liên hệ xã hội không thay đổi và lặp đi lặp lại của chúng ta lôi kéo chúng ta vào trong một quá trình kiên định tâm lý thẩm thấu tạo ra những cơ hội quý báu cho sự tăng trưởng và sự thay đổi. Giống như những tế bào sống tham dự vào một cuộc đối thoại với đồng loại của chúng, tâm chúng ta truyền đạt và tiếp thu những tin tức và gợi ý đều đặn điều này có thể thay đổi sâu sắc ngay cả ở dưới mức bắt đầu của nhận thức.

Điểm quan trọng đặc biệt cho sự tiến triển tinh thần của chúng ta là lựa chọn bạn và người đồng hành, là những người hầu như có thể có tác động đến quyết định vận mệnh của chúng ta. Đó là vì chúng ta đã hiểu được tâm của chúng ta bị ảnh hưởng như thế nào đối với bạn đồng hành của chúng ta điều mà Đức Phật đã nhấn mạnh nhiều lần về giá trị của tình bạn tốt (kalyanamittata) trong đời sống tu tập. Đức Phật dạy rằng Ngài không thấy điều gì làm ảnh hưởng nhiều đến sự sinh khởi phẩm chất bất thiện trong một người như là người bạn xấu, không có gì lợi ích hơn cho sự sanh khởi phẩm chất thiện như là người bạn tốt (AN 1.vii, 10; I.viii , 1). Lần nữa, Đức Phật nói rằng Ngài không thấy một yếu tố nào bên ngoài dẫn đến nhiều tổn hại như tình bạn xấu, và không có yếu tố nào bên ngoài khác dẫn đến lợi ích nhiều như tình bạn tốt (AN 1.x, 13,14).Xuyên qua ảnh hưởng của một người bạn tốt mà một đệ tử được dẫn dắt tu tập con đường Bát Chánh Đạo để giải thoát khỏi mọi khổ đau (SN 45: 2).

Trong Phật giáo, tình bạn chân chính, mang ý nghĩa đáng kể hơn là kết giao với những người mà người ta chỉ thấy là làm bạn sơ giao và chia sẻ với họ những quyền lợi của mình. Có nghĩa là trong kết quả tìm kiếm những người bạn trí hiền là người có thể tư vấn và lời chỉ dẫn. Nhiệm vụ của người bạn trí hiền không chỉ cung cấp tình bạn trong việc dẫn dắt sự tu tập. Người bạn thật sự là bậc trí hiền và có lòng từ bi là người có sự hiểu biết và sự thông cảm, sẵn sàng chỉ trích và nhắc nhở, chỉ ra những lỗi lầm của mình, ủng hộ và giúp đỡ, nhận thức rằng tận cùng của tình bạn là sự tăng tiến trong Giáo Pháp. Đức Phật đã trả lời một người đệ tử bằng cách mô tả ngắn gọn một người bạn tốt trong một câu kinh Pháp Cú: Khi gặp bậc hiền trí, Chê trách và chỉ lỗi, Xem như chỉ kho tàng, Nên thân bậc trí ấy, Sự thân cận như vậy, Là tốt, không phải xấu"(Dhp 76).

Kết giao với người trí tuệ là cốt lõi đối với sự phát triển tâm linh bởi vì ảnh hưởng thân giáo và lời khuyên của một vị tâm tu theo phạm hạnh là yếu tố quyết định sự giác ngộ và nuôi dưỡng sự bộc lộ tiềm năng tinh thần của chúng ta chưa được khai thác.Tâm không tu tập thì nuôi dưỡng những ý tưởng tiềm ẩn chưa sanh khởi, từ sự sâu thẳm của tính ích kỷ, tính tự cao tự đại và hung hăng cho đến đỉnh cao của trí tuệ, sự quên mình và lòng trắc ẩn. Việc chúng ta phải đương đầu, như những người học Phật Pháp, là kiểm tra và ngăn lại những tư tưởng không lành mạnh và thúc đẩy sự phát triển của tư tưởng lành mạnh, những giá trị dẫn đến giác ngộ,sự tự chủ và sự thanh tịnh. Tuy nhiên, khuynh hướng của tâm chúng ta không trưởng thành và suy sụp trong sự trống vắng. Chúng chịu ảnh hưởng của sự tác động liên tục của môi trường rộng lớn hơn, và trong số những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là những người chúng ta liên hệ, những người chúng ta xem như là người thầy, là người cố vấn và là bạn bè. Những người này âm thầm tác động đến những tiềm năng tiềm ẩn của chúng ta, những tiềm năng tiềm ẩn sẽ bộc lộ hoặc chịu ảnh hưởng của họ.

Trong việc tầm cầu Phật Pháp, vì vậy điều này trở nên cần thiết để chúng ta chọn người thầy hướng dẫn và bạn đồng hành của chúng ta, những người tiêu biểu, ít nhất một phần, những phẩm chất cao quý mà chúng ta tiếp thu do có tu tập Phật Pháp. Điều này đặc biệt cần thiết cho chúng ta trong giai đoạn đầu của sự phát triển tinh thần, khi những nguyện vọng đạo đức của chúng ta vẫn còn rõ rệt và tế nhị, có thể bị tổn thương trở nên suy thoái bởi sự lưỡng lự trong thâm tâm hoặc sự làm nản lòng từ những người quen người mà không chia sẻ lý tưởng của chúng ta. Trong giai đoạn đầu, tâm trí của chúng ta giống như con tắc kè hoa , thay đổi màu sắc tùy theo nền của nó. Giống như con tắc kè hoa này đổi thành màu xanh lá cây khi ở trong cỏ và màu nâu khi trên mặt đất, cũng vậy chúng ta trở thành những ngu ngốc khi chúng ta liên kết với những kẻ ngu ngốc và hiền nhân khi chúng ta liên kết với những bậc hiền nhân. Nội tâm thay đổi thường không xảy ra ngay lập tức; Nhưng dần dần, bằng cách tăng nhẹ đến mức bản thân chúng ta không thể nhận diện được chúng, tính cách của chúng ta trải qua một sự biến đổi mà cuối cùng có thể cho thấy dấu hiệu bi thảm đáng chú ý.

Nếu chúng ta kết giao chặt chẽ với những người nghiệp ma túy, đuổi bắt quyền lực, sự giàu có và danh vọng, chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta sẽ vẫn không bị ảnh hưởng bởi những ngông cuồng đó:mà theo thời gian tâm chúng ta sẽ dần dần hướng đến cái kết tương tự. Nếu chúng ta kết giao chặt chẽ với những người như vậy, khi chúng ta không chịu thua sự kém quan tâm về mặt đạo đức, sống cuộc sống thoải mái làm cho thích hợp với thói quen hàng ngày, chúng ta cũng sẽ bị dừng lại trong hàng rào thông thường.Nếu chúng ta mong muốn đạt đến mức độ cao nhất - đến đỉnh cao của trí tuệ và giải thoát siêu việt - thì chúng ta phải kết giao với những bậc tương ứng với cao qúi. Thậm chí nếu chúng ta không may mắn tìm được những người bạn đã tu tập đạt đến bậc cao, chúng ta cũng có thể tin rằng mình có may mắn nếu chúng ta cùng đi trên con đường tu tập với một vài người bạn tâm linh chia sẻ lý tưởng của chúng ta và cố gắng hết sức để nuôi dưỡng những phẩm chất cao quý của Giáo Pháp trong trái tim họ.

Khi chúng ta đặt câu hỏi như thế nào biết được người bạn chân chánh, như thế nào để phân biệt người thầy chân chánh từ người thầy bất chánh, Đức Phật cho chúng ta lời khuyên rõ ràng nhất. Trong bài kinh Tiểu Kinh Mãn Nguyệt MN 110), Đức Phật Ngài dạy sự khác biệt giữa tình bạn của người xấu và người tốt. Người xấu chọn bạn và người đồng hành của mình là những người không có đức tin, tư cách của họ thiếu sự hổ thẹn và sợ hãi về đạo đức, những người không có kiến thức về Phật Pháp, những người lười biếng và không ý thức, và những người không có trí tuệ. Hậu quả của việc lựa chọn những người bạn bất chánh như vậy làm người thầy cho mình, người bất chánh có kế hoạch và hành động đưa đến sự tổn hại cho mình, vì lợi ích của người khác, và hại của cả hai, và người đó gặp buồn phiền và đau khổ.

Ngược lại, người tốt chọn bạn và người đồng hành những người có đức tin, những người có sự hổ thẹn và sợ hãi về đạo đức, những người được học trong Giáo Pháp, tinh tấn trong việc tu tập tâm, chánh niệm và có trí tuệ .Thường xuyên gần gủi những người bạn tốt như vậy, xem họ như những người thầy thông thái và là người hướng dẫn, người tốt theo đuổi những phẩm chất giống như lý tưởng của mình và hấp thu chúng vào mình. Do đó, trong khi đang dần dần tự giải thoát mình, người đó trở thành gương sáng cho người khác. Một người như vậy có thể cung cấp cho những người lạc đường trong bóng tối một mô hình cảm hứng để thi đua, và một người bạn khôn ngoan để hướng dẫn và tư vấn.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Than Ôi! Các Hành Là Vô Thường - Bhikkhu Bodhi

Than Ôi, Các Hành Là Vô Thường - Anicca Vata Sankhara

by Bhikkhu Bodhi © 2005  

Việt dịch: Minh Hạnh, ngày 2-4-2017

Anicca vata sankhara - "Than ôi, các Hành là Vô thường!" - là cụm từ được những người Phật tử Phật giáo Nguyên Thủy Theravada than vãn về cái chết của một người thân yêu, nhưng tôi không trích dẫn dòng này ở đây để bắt đầu một bản cáo phó.Tôi chỉ muốn giới thiệu chủ đề của bài viết này, đó là chính từ Hành (sankhara).Đôi khi một từ Pali đơn lẻ lại có ý nghĩa phong phú như vậy chỉ cần ngồi xuống và viết chúng ra để có thể làm sáng tỏ giáo lý của Đức Phật như là một bài viết dài. Đó thực sự là trường hợp với chữ Hành (sankhara). Chữ này có vị trí trực tiếp vào tâm của Giáo Pháp, và để tìm ra những ý nghĩa khác nhau của nó để có cái nhìn thoáng qua về tầm nhìn của chính Đức Phật về thực tại.

Mặc dù khó có thể kiếm được từ tiếng Anh chính xác tương đương với chữ Hành (sankhara), tuy nhiên, bằng cách khảo sát tỉ mỉ cách sử dụng thực tế của nó, chúng ta có thể vẫn đạt tới sự hiểu biết sâu sắc về cách thức của từ trong "tư tưởng thế gian" của Giáo Pháp. Trong Tam Tạng kinh điển, chữ này được thấy trong ba lý thuyết mạch văn chính.Một là theo lý thuyết Thập Nhị Nhân Duyên (paticca-samuppada), nơi mà các Hành (sankharas) là mấu chốt thứ hai trong chuỗi. Chúng được cho là tạo điều kiện bởi sự Vô Minh và như là hành động duyên sinh Thức. Tổng hợp các lời giải thích từ các bài kinh điển khác nhau, chúng ta có thể thấy rằng các Hành (Sankharas) là những hành động tạo ra nghiệp có sức lực quyết đoán trách nhiệm tạo ra sự tái sinh và do đó duy trì sự chuyển động trở lại của luân hồi, vòng sinh và tử. Trong bối cảnh này, Hành (sankhara) gần như đồng nghĩa với nghiệp, một chữ mà nó tương đương với từ nguyên của một từ (etymologically).

Trong Tam Tạng kinh điển phân biệt hành động của các Hành (Sankharas) trong sự phụ thuộc vào ba cơ sở: thân, khẩu và ý. Một lần nữa, Các Hành(Sankharas) được chia thành những gì làm "Có công đức", "Không có công đức", và "Vô Động" v.v..., nghĩa là những ý muốn hiện hữu trong bốn cảnh thiền định vô sắc. Khi vô minh và tham dục nằm dưới dòng tâm thức, hành động đưa ra quyết định của chúng ta về thân, khẩu và ý trở thành lực lượng với khả năng tạo ra quả,và quả mà chúng tạo ra là đáng kể là sự đổi mới của dòng tâm thức sau khi chết. Chính những Hành (Sankharas), làm chỗ dựa cho sự sự vô minh với sự thúc đẩy bởi tham dục, điều này thúc đẩy dòng tâm thức trở về một qui trình mới của sự tái sanh, và chính xác nơi ý thức được thành lập được xác định bởi đặc tính nghiệp của những Hành (sankharas). Nếu một người tạo các công việc phước đức, các Hành (Sankharas) dẫn ý thức đến với một thế giới hạnh phúc của sự tái sinh. Nếu một người tham gia vào các việc bất thiện, các Hành (Sankharas) sẽ dẫn ý thức đến một cuộc tái sinh khốn khổ. Và nếu một người tu tập thiền định vô sắc, những thiền định vô định này, các Hành (sankharas) sẽ dẫn ý thức tái sanh vào cõi vô sắc.

Lãnh vực thứ hai nơi mà từ Hành (sankharas) được nhắc đến nằm trong một của ngũ uẩn. Uẩn thứ tư là Hành Uẩn (sankhara-khandha), tổ hợp sự hình thành của ý chí. Các bản chú giải định nghĩa Hành Uẩn (sankhara-khandha) như sáu giai cấp của hành động tạo tác của ý thức (cha cetanakaya): Ý thức về các sắc, thinh, khí, vị, xúc, và ý. Mặc dù các Hành này tương ứng chặt chẽ với điều đó trong công thức của lý duyên khởi, cả hai không phải là trong tất cả các khía cạnh như nhau, bởi vì Hành-uẩn sankhara-khandha) có một phạm vi rộng hơn. Hành-Uẩn của ý chí hình thành bao gồm tất cả các loại do ý muốn. Nó bao gồm không phải chỉ những việc cố ý tạo ra do nghiệp, mà còn gồm cả những việc tạo ra do kết quả của nghiệp và cả những việc không liên quan gì tới nghiệp. Trong văn học Pali sau này, Hành-uẩn (sankhara-khandha) trở thành một thể loại bảo vệ cho tất cả các yếu tố của tâm ngoại trừ thọ và tưởng là uẩn của riêng mình. Như vậy Hành-uẩn (sankhara-khandha) bao gồm các yếu tố biến đổi về mặt đạo đức như xúc, sự chủ tâm, tư tưởng, và tinh tấn; Các nhân tố lành mạnh như lòng quảng đại, nhân ái và trí tuệ; Và các yếu tố bất thiện như tham , sân, và si. Vì lẽ rằng tất cả các nhân tố này nảy sinh trong sự kết hợp với ý chí và góp phần vào hành động do ý muốn, các vị Giảng Sư Phật giáo thời xưa quyết định rằng nơi phù hợp nhất để ấn định chúng là uẩn của ý chí hình thành.

Lãnh vực thứ ba trong đó chữ Hành (sankhara) được tìm thấy như là một chỉ định cho tất cả những điều có điều kiện. Trong phạm vi này chữ có sự khác biệt tiêu cực, chứng tỏ bất cứ điều gì được hình thành bởi một sự kết hợp của các điều kiện;Bất cứ điều gì có điều kiện, được thiết lập, hoặc kết hợp. Theo ý nghĩa này nó có thể được đơn giản nêu ra là "sự hình thành", không phụ thuộc vào đủ điều kiện. Như hình thành vừa đủ, Hành (sankharas) bao gồm cả năm uẩn, không chỉ là cái thứ tư. Từ vựng cũng bao gồm các vật thể bên ngoài và các vị trí địa thế như núi, cánh đồng, và rừng; thị xã, thành phố; đồ ăn thức uống; đồ trang sức, xe cộ và máy tính.

Sự việc mà các Hành (sankharas) có thể bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và những thứ được tạo ra bởi chúng là hết sức quan trọng và đảm bảo cho từ vựng đóng vai trò của nó như là nền tảng của tầm nhìn triết học của Đức Phật. Đối với những gì mà Đức Phật nhấn mạnh là các Hành (sankharas) trong hai giác quan hoạt động - các sự hình thành tự ý có tác dụng trong nguồn gốc phụ thuộc, và nghiệp lực trong tổng hợp thứ tư cấu trúc các Hành (sankharas) theo nghĩa tiêu cực: "Chúng cấu trúc trong các điều kiện, do đó chúng được gọi là Hành. Và những điều mà chúng tạo ra là gì? Chúng tạo ra Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức; Do đó chúng được gọi là Hành "(SN XXII.79 ).

Mặc dù các vật vô tình bên ngoài có thể phát sinh từ các nguyên nhân hoàn toàn vật lý , những Hành (sankharas)  tạo nên cá tính của chúng ta - năm uẩn - tất cả đều được sanh ra từ nghiệp lực những hành vi của chúng ta tạo ra từ những kiếp trước. Trong cuộc sống hiện tại cũng như năm uẩn vẫn liên tục được duy trì, phục hồi và mở rộng bởi hoạt động từ ý chí mà chúng ta tạo nên ngay trong hiện tại, điều này trở thành điều kiện cho sự hiện hữu trong tương lai. Thật vậy, Đức Phật dạy rằng, chính những nghiệp của chúng ta sự hình thành Hành (Sankharas) đó tạo nên sự kết cấu cái hiện tại của chúng ta về cá thể, và đó là hiện thân của chúng ta Hành (sankharas) điều mà ngay bây giờ đang tạo nên những hành vi của cá nhân chúng ta sẽ cho ra trong cuộc sống tương lai của chúng ta. Những kết cấu này không có điều gì khác hơn những Hành (sankharas) như những điều có điều kiện, các hình thành có điều kiện bao gồm trong ngũ uẩn.

Sự kiện quan trọng nhất để hiểu về các Hành (sankharas), dưới dạng các hình thể có điều kiện, là chúng đều vô thường: "Than ôi, các hành là vô thường." Chúng là vô thường không chỉ theo nghĩa là trong cảm nhận rằng trong toàn bộ biểu thị của chúng cuối cùng sẽ chấm dứt, nhưng thậm chí còn rõ ràng hơn bởi vì ở mức tinh vi, cao siêu, chúng liên tục trải qua sự sanh khởi và hoại diệt, mãi mãi sẽ sanh và rồi , trong một thoáng thì tan vỡ và rữa mục: "Bản chất của chúng là sinh và diệt." Vì lý do này, Đức Phật tuyên bố rằng tất cả các Hành là đau khổ (sabhāra sankhara dukkha) - Tuy nhiên, đau khổ, không phải vì tất cả đều thực sự đau đớn và phiền não, nhưng vì chúng được chỉ rõ với biểu hiện tính chất biến đổi. "Đã sinh thì có diệt", và bởi vì tất cả chúng diệt thì không thể cho chúng ta hạnh phúc và an lạc ổn định.

Để đạt đến sự giải thoát khổ đau hoàn toàn-- không phải chỉ từ sự trải nghiệm đau khổ, mà từ sự không thỏa mãn với bản chất của tất cả điều kiện hiện hữu -- chúng ta phải đạt tới việc giải phóng khỏi các Hành (sankharas). Và những gì nằm ngoài các Hành (sankharas) là những gì không được tạo ra, không kết hợp, không phức tạp. Đây là Niết-bàn, theo đó được gọi là Vô Hành (asankhata) - đối nghịch với Hành (sankhata), một chữ thời quá khứ của chữ Hành (sankhara). Niết bàn được gọi chính xác là vô điều kiện bởi vì nó là một trạng thái không phải là một Hành (sankhara) cũng không được tạo nên bởi các Hành (sankharas); Một trạng thái được miêu tả như visankhara, "trạng thái rỗng không của hình thành", và như là sabbasankhara-samatha, "sự tĩnh lặng của mọi sự hình thành."

Tỷ dụ, khi chúng ta để từ Hành (sankhara) dưới kính hội tụ, chúng ta thấy nén trong nó toàn bộ thế giới quan của Giáo Pháp. Những hành hoạt được thể hiện bằng nghiệp lực tạo nên Hành (sankhara) trong năm uẩn tạo nên chúng sinh. Với điều kiện là chúng ta tiếp tục đồng hoá với năm uẩn (công việc của vô minh) và để tìm kiếm sự vui thích trong chúng (công việc của ái dục), chúng ta tiếp tục tạo ra những hành uẩn và các kết hợp các uẩn trong tương lai. Chỉ là bản chất của luân hồi (samsara): một chuỗi Hành (sankharas) trống rỗng nhưng hiệu quả vẫn tiếp tục sinh sản ra những Hành (sankharas) khác, chồng chất lên với những hành động mới mỗi lần tái sanh, phát triển đến tột đỉnh, rồi rơi vào tuổi già, bệnh và chết. Tuy nhiên, khi nó đi, che giấu ảo giác rằng chúng ta đang thực sự kiểm soát bởi điều gì đó không bao giờ đạt được, luôn luôn thu hẹp sự hài lòng cuối cùng.

Tuy nhiên, khi chúng ta bắt đầu thực hành Giáo Pháp, chúng ta sẽ không ngần ngại ngưng lại nếu có sự phát sinh của các Hành (sankhãas). Chúng ta học cách nhìn thấy bản chất thật của các Hành (sankharas), của ngũ uẩn của chúng ta: như không ổn định,một tiến trình có điều kiện tiến tới và không có ai điều khiển.Bằng cách đó chúng ta ngăn chặn lực điều khiển bởi vô minh và tham dục, và quá trình tạo nghiệp, sự khởi sinh của các Hành (sankharas), bị ngưng phát triển có hiệu lực. Bằng cách chấm dứt việc xây dựng thực tại có điều kiện, chúng ta mở cánh cửa để chấp nhận những gì từng hiện hữu nhưng không được xây dựng, không cần đặt điều kiện: asankhata-dhatu -- yếu tố Vô lậu. Đây là Niết Bàn, Sự Bất Tử, sự Tịch tịnh của các Hành động do tác ý, sự giải phóng cuối cùng từ mọi hình thức có điều kiện và từ sự vô thường và chết.Vì thế, đoạn văn này có thể kết luận: "để chìm xuống những sự hình thành là điều hạnh phúc!"