Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Thân Cận Bậc Trí Hiền - Bhikkhu Bodhi

Thân Cận Bậc Trí Hiền
Association with the Wise 

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Việt dịch - Minh Hạnh , ngày 26-4-2017

Kinh Maha-Mangala, là kinh Đại Phước Lành, một trong những bài kinh Phật giáo phổ biến nhất, nằm trong các bài kinh điển thiêng liêng tiêu chuẩn của kinh điển Pali. Bắt đầu bài kinh khi một vị Trời dung sắc thù thắng với hào quang chiếu diệu, đã xuống thế gian trong một đêm tĩnh lặng, đến đảnh lễ Đức Phật tại Jeta Grove (Kỳ Viên) và hỏi về con đường mang đến những phước lành cao thượng. Trong đoạn kệ đầu tiên Đức Phật trả lời, Ngài tuyên bố rằng phước lành cao thượng đến từ việc Không gần gũi kẻ ác và Thân cận bậc trí hiền (asevana ca balanam, panditanan ca sevana).Từ đó cho đến hết phần còn lại của bài kinh tiếp tục trình bày tất cả các khía cạnh khác nhau của những điều mang lại hạnh phúc con người, kể cả loài người và chư thiên, thì sự quy cho việc thân cận bậc trí hiền là bài kệ mở đầu đã nhấn mạnh đến một điểm then chốt: đó là sự tiến triển dọc theo con đường tu tập Giáo Pháp xoay quanh việc đưa ra những lựa chọn đúng đắn trong tình bạn của chúng ta.

Trái ngược với các học thuyết tâm lý nhất định, tâm trí con người không phải là một buồng đóng kín bao bọc một nhân cách không thay đổi được hình thành bởi sinh học và kinh nghiệm còn trứng nước. Chính xác hơn, trong suốt cuộc đời tâm con người là một thực thể tự nó dễ uốn nắn liên tục để đáp ứng những ảnh hưởng xã hội nơi nó sinh sống. Tránh xa không giao thiệp với những người cố chấp và không chịu thay đổi, những liên hệ xã hội không thay đổi và lặp đi lặp lại của chúng ta lôi kéo chúng ta vào trong một quá trình kiên định tâm lý thẩm thấu tạo ra những cơ hội quý báu cho sự tăng trưởng và sự thay đổi. Giống như những tế bào sống tham dự vào một cuộc đối thoại với đồng loại của chúng, tâm chúng ta truyền đạt và tiếp thu những tin tức và gợi ý đều đặn điều này có thể thay đổi sâu sắc ngay cả ở dưới mức bắt đầu của nhận thức.

Điểm quan trọng đặc biệt cho sự tiến triển tinh thần của chúng ta là lựa chọn bạn và người đồng hành, là những người hầu như có thể có tác động đến quyết định vận mệnh của chúng ta. Đó là vì chúng ta đã hiểu được tâm của chúng ta bị ảnh hưởng như thế nào đối với bạn đồng hành của chúng ta điều mà Đức Phật đã nhấn mạnh nhiều lần về giá trị của tình bạn tốt (kalyanamittata) trong đời sống tu tập. Đức Phật dạy rằng Ngài không thấy điều gì làm ảnh hưởng nhiều đến sự sinh khởi phẩm chất bất thiện trong một người như là người bạn xấu, không có gì lợi ích hơn cho sự sanh khởi phẩm chất thiện như là người bạn tốt (AN 1.vii, 10; I.viii , 1). Lần nữa, Đức Phật nói rằng Ngài không thấy một yếu tố nào bên ngoài dẫn đến nhiều tổn hại như tình bạn xấu, và không có yếu tố nào bên ngoài khác dẫn đến lợi ích nhiều như tình bạn tốt (AN 1.x, 13,14).Xuyên qua ảnh hưởng của một người bạn tốt mà một đệ tử được dẫn dắt tu tập con đường Bát Chánh Đạo để giải thoát khỏi mọi khổ đau (SN 45: 2).

Trong Phật giáo, tình bạn chân chính, mang ý nghĩa đáng kể hơn là kết giao với những người mà người ta chỉ thấy là làm bạn sơ giao và chia sẻ với họ những quyền lợi của mình. Có nghĩa là trong kết quả tìm kiếm những người bạn trí hiền là người có thể tư vấn và lời chỉ dẫn. Nhiệm vụ của người bạn trí hiền không chỉ cung cấp tình bạn trong việc dẫn dắt sự tu tập. Người bạn thật sự là bậc trí hiền và có lòng từ bi là người có sự hiểu biết và sự thông cảm, sẵn sàng chỉ trích và nhắc nhở, chỉ ra những lỗi lầm của mình, ủng hộ và giúp đỡ, nhận thức rằng tận cùng của tình bạn là sự tăng tiến trong Giáo Pháp. Đức Phật đã trả lời một người đệ tử bằng cách mô tả ngắn gọn một người bạn tốt trong một câu kinh Pháp Cú: Khi gặp bậc hiền trí, Chê trách và chỉ lỗi, Xem như chỉ kho tàng, Nên thân bậc trí ấy, Sự thân cận như vậy, Là tốt, không phải xấu"(Dhp 76).

Kết giao với người trí tuệ là cốt lõi đối với sự phát triển tâm linh bởi vì ảnh hưởng thân giáo và lời khuyên của một vị tâm tu theo phạm hạnh là yếu tố quyết định sự giác ngộ và nuôi dưỡng sự bộc lộ tiềm năng tinh thần của chúng ta chưa được khai thác.Tâm không tu tập thì nuôi dưỡng những ý tưởng tiềm ẩn chưa sanh khởi, từ sự sâu thẳm của tính ích kỷ, tính tự cao tự đại và hung hăng cho đến đỉnh cao của trí tuệ, sự quên mình và lòng trắc ẩn. Việc chúng ta phải đương đầu, như những người học Phật Pháp, là kiểm tra và ngăn lại những tư tưởng không lành mạnh và thúc đẩy sự phát triển của tư tưởng lành mạnh, những giá trị dẫn đến giác ngộ,sự tự chủ và sự thanh tịnh. Tuy nhiên, khuynh hướng của tâm chúng ta không trưởng thành và suy sụp trong sự trống vắng. Chúng chịu ảnh hưởng của sự tác động liên tục của môi trường rộng lớn hơn, và trong số những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là những người chúng ta liên hệ, những người chúng ta xem như là người thầy, là người cố vấn và là bạn bè. Những người này âm thầm tác động đến những tiềm năng tiềm ẩn của chúng ta, những tiềm năng tiềm ẩn sẽ bộc lộ hoặc chịu ảnh hưởng của họ.

Trong việc tầm cầu Phật Pháp, vì vậy điều này trở nên cần thiết để chúng ta chọn người thầy hướng dẫn và bạn đồng hành của chúng ta, những người tiêu biểu, ít nhất một phần, những phẩm chất cao quý mà chúng ta tiếp thu do có tu tập Phật Pháp. Điều này đặc biệt cần thiết cho chúng ta trong giai đoạn đầu của sự phát triển tinh thần, khi những nguyện vọng đạo đức của chúng ta vẫn còn rõ rệt và tế nhị, có thể bị tổn thương trở nên suy thoái bởi sự lưỡng lự trong thâm tâm hoặc sự làm nản lòng từ những người quen người mà không chia sẻ lý tưởng của chúng ta. Trong giai đoạn đầu, tâm trí của chúng ta giống như con tắc kè hoa , thay đổi màu sắc tùy theo nền của nó. Giống như con tắc kè hoa này đổi thành màu xanh lá cây khi ở trong cỏ và màu nâu khi trên mặt đất, cũng vậy chúng ta trở thành những ngu ngốc khi chúng ta liên kết với những kẻ ngu ngốc và hiền nhân khi chúng ta liên kết với những bậc hiền nhân. Nội tâm thay đổi thường không xảy ra ngay lập tức; Nhưng dần dần, bằng cách tăng nhẹ đến mức bản thân chúng ta không thể nhận diện được chúng, tính cách của chúng ta trải qua một sự biến đổi mà cuối cùng có thể cho thấy dấu hiệu bi thảm đáng chú ý.

Nếu chúng ta kết giao chặt chẽ với những người nghiệp ma túy, đuổi bắt quyền lực, sự giàu có và danh vọng, chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta sẽ vẫn không bị ảnh hưởng bởi những ngông cuồng đó:mà theo thời gian tâm chúng ta sẽ dần dần hướng đến cái kết tương tự. Nếu chúng ta kết giao chặt chẽ với những người như vậy, khi chúng ta không chịu thua sự kém quan tâm về mặt đạo đức, sống cuộc sống thoải mái làm cho thích hợp với thói quen hàng ngày, chúng ta cũng sẽ bị dừng lại trong hàng rào thông thường.Nếu chúng ta mong muốn đạt đến mức độ cao nhất - đến đỉnh cao của trí tuệ và giải thoát siêu việt - thì chúng ta phải kết giao với những bậc tương ứng với cao qúi. Thậm chí nếu chúng ta không may mắn tìm được những người bạn đã tu tập đạt đến bậc cao, chúng ta cũng có thể tin rằng mình có may mắn nếu chúng ta cùng đi trên con đường tu tập với một vài người bạn tâm linh chia sẻ lý tưởng của chúng ta và cố gắng hết sức để nuôi dưỡng những phẩm chất cao quý của Giáo Pháp trong trái tim họ.

Khi chúng ta đặt câu hỏi như thế nào biết được người bạn chân chánh, như thế nào để phân biệt người thầy chân chánh từ người thầy bất chánh, Đức Phật cho chúng ta lời khuyên rõ ràng nhất. Trong bài kinh Tiểu Kinh Mãn Nguyệt MN 110), Đức Phật Ngài dạy sự khác biệt giữa tình bạn của người xấu và người tốt. Người xấu chọn bạn và người đồng hành của mình là những người không có đức tin, tư cách của họ thiếu sự hổ thẹn và sợ hãi về đạo đức, những người không có kiến thức về Phật Pháp, những người lười biếng và không ý thức, và những người không có trí tuệ. Hậu quả của việc lựa chọn những người bạn bất chánh như vậy làm người thầy cho mình, người bất chánh có kế hoạch và hành động đưa đến sự tổn hại cho mình, vì lợi ích của người khác, và hại của cả hai, và người đó gặp buồn phiền và đau khổ.

Ngược lại, người tốt chọn bạn và người đồng hành những người có đức tin, những người có sự hổ thẹn và sợ hãi về đạo đức, những người được học trong Giáo Pháp, tinh tấn trong việc tu tập tâm, chánh niệm và có trí tuệ .Thường xuyên gần gủi những người bạn tốt như vậy, xem họ như những người thầy thông thái và là người hướng dẫn, người tốt theo đuổi những phẩm chất giống như lý tưởng của mình và hấp thu chúng vào mình. Do đó, trong khi đang dần dần tự giải thoát mình, người đó trở thành gương sáng cho người khác. Một người như vậy có thể cung cấp cho những người lạc đường trong bóng tối một mô hình cảm hứng để thi đua, và một người bạn khôn ngoan để hướng dẫn và tư vấn.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Than Ôi! Các Hành Là Vô Thường - Bhikkhu Bodhi

Than Ôi, Các Hành Là Vô Thường - Anicca Vata Sankhara

by Bhikkhu Bodhi © 2005  

Việt dịch: Minh Hạnh, ngày 2-4-2017

Anicca vata sankhara - "Than ôi, các Hành là Vô thường!" - là cụm từ được những người Phật tử Phật giáo Nguyên Thủy Theravada than vãn về cái chết của một người thân yêu, nhưng tôi không trích dẫn dòng này ở đây để bắt đầu một bản cáo phó.Tôi chỉ muốn giới thiệu chủ đề của bài viết này, đó là chính từ Hành (sankhara).Đôi khi một từ Pali đơn lẻ lại có ý nghĩa phong phú như vậy chỉ cần ngồi xuống và viết chúng ra để có thể làm sáng tỏ giáo lý của Đức Phật như là một bài viết dài. Đó thực sự là trường hợp với chữ Hành (sankhara). Chữ này có vị trí trực tiếp vào tâm của Giáo Pháp, và để tìm ra những ý nghĩa khác nhau của nó để có cái nhìn thoáng qua về tầm nhìn của chính Đức Phật về thực tại.

Mặc dù khó có thể kiếm được từ tiếng Anh chính xác tương đương với chữ Hành (sankhara), tuy nhiên, bằng cách khảo sát tỉ mỉ cách sử dụng thực tế của nó, chúng ta có thể vẫn đạt tới sự hiểu biết sâu sắc về cách thức của từ trong "tư tưởng thế gian" của Giáo Pháp. Trong Tam Tạng kinh điển, chữ này được thấy trong ba lý thuyết mạch văn chính.Một là theo lý thuyết Thập Nhị Nhân Duyên (paticca-samuppada), nơi mà các Hành (sankharas) là mấu chốt thứ hai trong chuỗi. Chúng được cho là tạo điều kiện bởi sự Vô Minh và như là hành động duyên sinh Thức. Tổng hợp các lời giải thích từ các bài kinh điển khác nhau, chúng ta có thể thấy rằng các Hành (Sankharas) là những hành động tạo ra nghiệp có sức lực quyết đoán trách nhiệm tạo ra sự tái sinh và do đó duy trì sự chuyển động trở lại của luân hồi, vòng sinh và tử. Trong bối cảnh này, Hành (sankhara) gần như đồng nghĩa với nghiệp, một chữ mà nó tương đương với từ nguyên của một từ (etymologically).

Trong Tam Tạng kinh điển phân biệt hành động của các Hành (Sankharas) trong sự phụ thuộc vào ba cơ sở: thân, khẩu và ý. Một lần nữa, Các Hành(Sankharas) được chia thành những gì làm "Có công đức", "Không có công đức", và "Vô Động" v.v..., nghĩa là những ý muốn hiện hữu trong bốn cảnh thiền định vô sắc. Khi vô minh và tham dục nằm dưới dòng tâm thức, hành động đưa ra quyết định của chúng ta về thân, khẩu và ý trở thành lực lượng với khả năng tạo ra quả,và quả mà chúng tạo ra là đáng kể là sự đổi mới của dòng tâm thức sau khi chết. Chính những Hành (Sankharas), làm chỗ dựa cho sự sự vô minh với sự thúc đẩy bởi tham dục, điều này thúc đẩy dòng tâm thức trở về một qui trình mới của sự tái sanh, và chính xác nơi ý thức được thành lập được xác định bởi đặc tính nghiệp của những Hành (sankharas). Nếu một người tạo các công việc phước đức, các Hành (Sankharas) dẫn ý thức đến với một thế giới hạnh phúc của sự tái sinh. Nếu một người tham gia vào các việc bất thiện, các Hành (Sankharas) sẽ dẫn ý thức đến một cuộc tái sinh khốn khổ. Và nếu một người tu tập thiền định vô sắc, những thiền định vô định này, các Hành (sankharas) sẽ dẫn ý thức tái sanh vào cõi vô sắc.

Lãnh vực thứ hai nơi mà từ Hành (sankharas) được nhắc đến nằm trong một của ngũ uẩn. Uẩn thứ tư là Hành Uẩn (sankhara-khandha), tổ hợp sự hình thành của ý chí. Các bản chú giải định nghĩa Hành Uẩn (sankhara-khandha) như sáu giai cấp của hành động tạo tác của ý thức (cha cetanakaya): Ý thức về các sắc, thinh, khí, vị, xúc, và ý. Mặc dù các Hành này tương ứng chặt chẽ với điều đó trong công thức của lý duyên khởi, cả hai không phải là trong tất cả các khía cạnh như nhau, bởi vì Hành-uẩn sankhara-khandha) có một phạm vi rộng hơn. Hành-Uẩn của ý chí hình thành bao gồm tất cả các loại do ý muốn. Nó bao gồm không phải chỉ những việc cố ý tạo ra do nghiệp, mà còn gồm cả những việc tạo ra do kết quả của nghiệp và cả những việc không liên quan gì tới nghiệp. Trong văn học Pali sau này, Hành-uẩn (sankhara-khandha) trở thành một thể loại bảo vệ cho tất cả các yếu tố của tâm ngoại trừ thọ và tưởng là uẩn của riêng mình. Như vậy Hành-uẩn (sankhara-khandha) bao gồm các yếu tố biến đổi về mặt đạo đức như xúc, sự chủ tâm, tư tưởng, và tinh tấn; Các nhân tố lành mạnh như lòng quảng đại, nhân ái và trí tuệ; Và các yếu tố bất thiện như tham , sân, và si. Vì lẽ rằng tất cả các nhân tố này nảy sinh trong sự kết hợp với ý chí và góp phần vào hành động do ý muốn, các vị Giảng Sư Phật giáo thời xưa quyết định rằng nơi phù hợp nhất để ấn định chúng là uẩn của ý chí hình thành.

Lãnh vực thứ ba trong đó chữ Hành (sankhara) được tìm thấy như là một chỉ định cho tất cả những điều có điều kiện. Trong phạm vi này chữ có sự khác biệt tiêu cực, chứng tỏ bất cứ điều gì được hình thành bởi một sự kết hợp của các điều kiện;Bất cứ điều gì có điều kiện, được thiết lập, hoặc kết hợp. Theo ý nghĩa này nó có thể được đơn giản nêu ra là "sự hình thành", không phụ thuộc vào đủ điều kiện. Như hình thành vừa đủ, Hành (sankharas) bao gồm cả năm uẩn, không chỉ là cái thứ tư. Từ vựng cũng bao gồm các vật thể bên ngoài và các vị trí địa thế như núi, cánh đồng, và rừng; thị xã, thành phố; đồ ăn thức uống; đồ trang sức, xe cộ và máy tính.

Sự việc mà các Hành (sankharas) có thể bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và những thứ được tạo ra bởi chúng là hết sức quan trọng và đảm bảo cho từ vựng đóng vai trò của nó như là nền tảng của tầm nhìn triết học của Đức Phật. Đối với những gì mà Đức Phật nhấn mạnh là các Hành (sankharas) trong hai giác quan hoạt động - các sự hình thành tự ý có tác dụng trong nguồn gốc phụ thuộc, và nghiệp lực trong tổng hợp thứ tư cấu trúc các Hành (sankharas) theo nghĩa tiêu cực: "Chúng cấu trúc trong các điều kiện, do đó chúng được gọi là Hành. Và những điều mà chúng tạo ra là gì? Chúng tạo ra Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức; Do đó chúng được gọi là Hành "(SN XXII.79 ).

Mặc dù các vật vô tình bên ngoài có thể phát sinh từ các nguyên nhân hoàn toàn vật lý , những Hành (sankharas)  tạo nên cá tính của chúng ta - năm uẩn - tất cả đều được sanh ra từ nghiệp lực những hành vi của chúng ta tạo ra từ những kiếp trước. Trong cuộc sống hiện tại cũng như năm uẩn vẫn liên tục được duy trì, phục hồi và mở rộng bởi hoạt động từ ý chí mà chúng ta tạo nên ngay trong hiện tại, điều này trở thành điều kiện cho sự hiện hữu trong tương lai. Thật vậy, Đức Phật dạy rằng, chính những nghiệp của chúng ta sự hình thành Hành (Sankharas) đó tạo nên sự kết cấu cái hiện tại của chúng ta về cá thể, và đó là hiện thân của chúng ta Hành (sankharas) điều mà ngay bây giờ đang tạo nên những hành vi của cá nhân chúng ta sẽ cho ra trong cuộc sống tương lai của chúng ta. Những kết cấu này không có điều gì khác hơn những Hành (sankharas) như những điều có điều kiện, các hình thành có điều kiện bao gồm trong ngũ uẩn.

Sự kiện quan trọng nhất để hiểu về các Hành (sankharas), dưới dạng các hình thể có điều kiện, là chúng đều vô thường: "Than ôi, các hành là vô thường." Chúng là vô thường không chỉ theo nghĩa là trong cảm nhận rằng trong toàn bộ biểu thị của chúng cuối cùng sẽ chấm dứt, nhưng thậm chí còn rõ ràng hơn bởi vì ở mức tinh vi, cao siêu, chúng liên tục trải qua sự sanh khởi và hoại diệt, mãi mãi sẽ sanh và rồi , trong một thoáng thì tan vỡ và rữa mục: "Bản chất của chúng là sinh và diệt." Vì lý do này, Đức Phật tuyên bố rằng tất cả các Hành là đau khổ (sabhāra sankhara dukkha) - Tuy nhiên, đau khổ, không phải vì tất cả đều thực sự đau đớn và phiền não, nhưng vì chúng được chỉ rõ với biểu hiện tính chất biến đổi. "Đã sinh thì có diệt", và bởi vì tất cả chúng diệt thì không thể cho chúng ta hạnh phúc và an lạc ổn định.

Để đạt đến sự giải thoát khổ đau hoàn toàn-- không phải chỉ từ sự trải nghiệm đau khổ, mà từ sự không thỏa mãn với bản chất của tất cả điều kiện hiện hữu -- chúng ta phải đạt tới việc giải phóng khỏi các Hành (sankharas). Và những gì nằm ngoài các Hành (sankharas) là những gì không được tạo ra, không kết hợp, không phức tạp. Đây là Niết-bàn, theo đó được gọi là Vô Hành (asankhata) - đối nghịch với Hành (sankhata), một chữ thời quá khứ của chữ Hành (sankhara). Niết bàn được gọi chính xác là vô điều kiện bởi vì nó là một trạng thái không phải là một Hành (sankhara) cũng không được tạo nên bởi các Hành (sankharas); Một trạng thái được miêu tả như visankhara, "trạng thái rỗng không của hình thành", và như là sabbasankhara-samatha, "sự tĩnh lặng của mọi sự hình thành."

Tỷ dụ, khi chúng ta để từ Hành (sankhara) dưới kính hội tụ, chúng ta thấy nén trong nó toàn bộ thế giới quan của Giáo Pháp. Những hành hoạt được thể hiện bằng nghiệp lực tạo nên Hành (sankhara) trong năm uẩn tạo nên chúng sinh. Với điều kiện là chúng ta tiếp tục đồng hoá với năm uẩn (công việc của vô minh) và để tìm kiếm sự vui thích trong chúng (công việc của ái dục), chúng ta tiếp tục tạo ra những hành uẩn và các kết hợp các uẩn trong tương lai. Chỉ là bản chất của luân hồi (samsara): một chuỗi Hành (sankharas) trống rỗng nhưng hiệu quả vẫn tiếp tục sinh sản ra những Hành (sankharas) khác, chồng chất lên với những hành động mới mỗi lần tái sanh, phát triển đến tột đỉnh, rồi rơi vào tuổi già, bệnh và chết. Tuy nhiên, khi nó đi, che giấu ảo giác rằng chúng ta đang thực sự kiểm soát bởi điều gì đó không bao giờ đạt được, luôn luôn thu hẹp sự hài lòng cuối cùng.

Tuy nhiên, khi chúng ta bắt đầu thực hành Giáo Pháp, chúng ta sẽ không ngần ngại ngưng lại nếu có sự phát sinh của các Hành (sankhãas). Chúng ta học cách nhìn thấy bản chất thật của các Hành (sankharas), của ngũ uẩn của chúng ta: như không ổn định,một tiến trình có điều kiện tiến tới và không có ai điều khiển.Bằng cách đó chúng ta ngăn chặn lực điều khiển bởi vô minh và tham dục, và quá trình tạo nghiệp, sự khởi sinh của các Hành (sankharas), bị ngưng phát triển có hiệu lực. Bằng cách chấm dứt việc xây dựng thực tại có điều kiện, chúng ta mở cánh cửa để chấp nhận những gì từng hiện hữu nhưng không được xây dựng, không cần đặt điều kiện: asankhata-dhatu -- yếu tố Vô lậu. Đây là Niết Bàn, Sự Bất Tử, sự Tịch tịnh của các Hành động do tác ý, sự giải phóng cuối cùng từ mọi hình thức có điều kiện và từ sự vô thường và chết.Vì thế, đoạn văn này có thể kết luận: "để chìm xuống những sự hình thành là điều hạnh phúc!"