Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

Sẵn Sàng để ra đi : Sẵn Sàng Để Chết - by Venerable Acharn Maha Boowa

Sẵn Sàng để ra đi : Sẵn Sàng Để Chết
 Ready to Go : Ready to Die

- Dhamma Talks on Living and Dying
Venerable Acharn Maha Boowa Ñanasampanno   edited by Bhikkhu Ariyesako1996

Minh Hạnh Việt dịch

"... Đức Phật dạy ngày nào chúng ta chết không quan trọng.
Bất cứ khi nào hơi thở hết, đó là ngày chết.
Quan trọng duy nhất là hơi thở cuối cùng của chúng ta....

Lời Giới Thiệu  

Bất kỳ ai đã từng đến thăm những Tu Viện Lâm Tăng của Thailand sẽ không cần lời giới thiệu. Họ đã được gặp những vị Thiền Sư, những người đã giảng dạy trong sự không gò bó và trực tiếp, và thể hiện qua thân giáo trong việc giảng dạy. Đây là Giáo Phái Lâm Tăng, đầy khí lực nhưng không kỳ vọng, người truyền cảm hứng trong cuộc sống và đường lối tu tập hơn là đọc chúng. Còn nữa đây là một cuốn sách — và là một bản dịch của một cuốn sách tại đó — điều mà chỉ có thể cố gắng dâng hiến một phần quan cảnh nào đó của lời giáo huấn.

Đây là phần đặc biệt so với phần thứ nhất của tuyển tập các bài Pháp, Cho Tới Hơi Thở Cuối. Những bài pháp này đã được giảng trong hoàn cảnh khá đặc biệt: Một người, hiểu biết nhiều về Phật Pháp, đang chết vì bịnh ung thư. Do vậy đã nhấn mạnh vào việc đối phó với nỗi đau, nỗi lo lắng và, cuối cùng, chết. Điểm chính là vượt qua sự đau khổ và cái chết.

Sẵn Sàng để ra đi : Sẵn Sàng Để Chết  

Tâm của chúng ta rất giống một đứa trẻ. Đứa trẻ thì không thể tự chăm sóc và do đó phải tùy thuộc vào mẹ và cha, vào người giám hộ và người bảo mẫu, dựa vào nhiều người khác. Nhưng đứa trẻ ít nhất có cha mẹ và người giám hộ chăm sóc, để bảo đảm nó không bị nguy hiểm. Trong khi đó tâm chúng ta luôn luôn nắm bắt và dính mắc vào những thứ khác, nó không tìm thấy bất kỳ sự an toàn và đáng tin cậy.

Tâm không thể dựa vào chính nó và do đó luôn thích dính mắc vào mọi thứ. Phần lớn , nó có khuynh hướng tiếp cận với những điều sai trái, những điều gây hại. Lý do mà nó thích tìm kiếm và giữ lấy mọi thứ, là để nó có thể tìm thấy sự an toàn, đáng tin và thoải mái cho chính nó. Tuy nhiên, những thứ nó dính mắc không chân thực và vì vậy chúng thường gây ra mối nguy hiểm cho tâm. Cho dù chúng ta là trẻ em hay đã trưởng thành, đây là cách mà tâm của chúng ta có xu hướng.

Thay vì cố gắng tin vào chính mình, chúng ta luôn đặt hy vọng vào những thứ khác, những người khác. Chúng ta không thể tự đứng bằng hai chân. Điều này là do tâm chúng ta không có tuệ để kiểm tra xem các đối tượng mà nó nắm bắt là đúng hay sai, tốt hay xấu. Nó không biết cách tự chăm sóc bản thân, cách tự giúp mình, vì không có ai dạy nó. Không có ai để tư vấn làm thế nào để biết những thứ nguy hiểm và những thứ có lợi, những thứ nào nên được giữ và những thứ không nên. Do đó, tâm liên tục nắm bắt bất cứ điều gì, dù tốt hay xấu, miễn là nó thích. Ngay cả khi nó không hài lòng, đặc điểm của tâm vẫn là liên tục nắm bắt và đeo bám. Tại sao vậy?

Thông thường, người ta không nghĩ rằng các đối tượng cảm xúc hoặc một điều gì đó không hài lòng thì không đáng để dính mắc. Tuy nhiên, tâm liên tục nắm bắt những điều như vậy. Nó nắm bắt sân hận, si mê và ham muốn, thù hận và phẫn nộ, bởi vì nó dính mắc và bị cuốn vào chúng. Chúng ta không bao giờ có thể nói rằng tâm chỉ đơn giản là biết một vật thể, vì nó luôn bị cuốn vào và dính mắc. Phần lớn, những điều đó không có gì tốt trong chúng.

Tại sao tâm phải bận rộn và nắm bắt mọi thứ? Đó là bởi vì nó bị thu hút mà không nhận ra tác động của sự dính mắc của nó. Mặc dù bạn có thể muốn tách ra khỏi nó nhưng bạn không thể, bởi vì có một thứ khác đủ mạnh để buộc tâm phải nắm lấy và bám vào. Đối tượng sau đó bị cuốn vào những cảm xúc, liên tục bị che khuất và che khuất chính mình. Ở đây chúng ta đang nói về các đối tượng cảm xúc1 và những lo lắng.

Bây giờ tôi sẽ nói về các đối tượng cụ thể. Tâm sẽ nắm bắt và dính mắc vào bất cứ đối tượng nào có mặt. Nó không quan tâm là tầm thường hay quan trọng như thế nào, có giá trị hay vô giá trị như thế nào; tâm có thể và sẽ tự dính mắc. Không có gì sai nếu chúng ta gọi tâm là một kẻ 'đuổi bắt' chuyên nghiệp. Điều này là do tâm luôn không trụ vào chính nó, và do vậy thường phóng tâm chạy theo những trần cảnh bên ngoài, cho tới cuối đời thì tâm dẫn dắt người ta xuyên qua nhiều tình huống thay đổi. Tâm thậm chí có thể quên mình bằng cách đầu hàng trước sức mạnh của các vật thể bên ngoài, mặc dù sự kiểm soát của chúng là vô căn cứ và dẫn đường sai.

Đức Phật dạy rằng, "Hãy nương tựa chính mình, tựa nương ai khác được, khéo tu tập tự thân, được nơi nương khó được". (2) Hãy cố gắng rèn luyện tâm tập trung vào tâm, vì xu hướng của tâm là luôn luôn hy vọng tin vào những thứ khác. Thoát khỏi sự ràng buộc bản thân từ những đối tượng như vậy và hướng tâm vào trong để nương tựa nhiều hơn vào tiềm lực và khả năng của chính mình. Đừng phụ thuộc vào cha mẹ, bạn bè và những người khác, đến nỗi quên mất chính mình. Đặc điểm con người của chúng ta là liên tục tìm kiếm sự hỗ trợ ở người khác cuối cùng trở thành thói quen cá nhân. Giống như thế trên toàn thế giới, và về vấn đề này chúng ta khó có thể đo lường được một số loại động vật. Đây là lý do tại sao Đức Phật dạy về sự tự lực.

Trong những vấn đề tầm thường và thô thiển của chúng ta, như công việc và những trách nhiệm khác, chúng ta nên cố gắng tự chủ nhiều hơn. Tu học Giáo pháp - tâm tu tập thiền định - chúng ta cần phải có một vị Thầy có kinh nghiệm để hướng dẫn đầy đủ hướng đi đúng để tu tập.Thật sự việc tu tập, cho dù là nhiệm vụ của mỗi người chúng ta, để tìm thấy sự đảm bảo trong sự tự lực của chúng ta theo các nguyên tắc của Phật Pháp. Đức Phật đã dạy, ví dụ, về việc trau dồi tâm thiện và đức hạnh thông qua việc bố thí, giới luật[3] và thiền định. Đây là điều để chúng ta có thể phát triển sự tự lực, đó là tâm trú trong các điều thiện và lành mạnh. Sau đó được an lạc và hạnh phúc trong cả cuộc sống hiện tại và tương lai, bởi vì chúng là những điều có lợi và bắt nguồn từ những hành động thiện. Chúng tạo nên những đối tượng tốt hoặc trở thành dinh dưỡng tốt cho tâm.

Chúng ta được chỉ dạy tu tập thiền, đó là một bước cao hơn trong sự gạn lọc tâm. Sự tinh tần này rèn luyện bản thân chúng ta trong thiền định là phương thức nương tựa đáng tin cậy và bền vững hơn vào chính mình. Chúng ta làm công việc chuẩn bị định (parikamma) [4] như là phương tiện để hướng dẫn và kiểm soát tâm. Thay cho, tâm chưa thể tự chống đỡ, chúng ta phải dựa vào giai đọan chuẩn bị định là đối tượng để làm dịu và mang lại an lạc và tĩnh lặng. Làm tâm lắng xuống với câu niệm Phật "Buddho Buddho Buddho ..." là một ví dụ về điều này. Đức Phật (Buddho) là một đối tượng để tâm trụ lại, chính xác, đúng đắn và thích hợp để tìm nơi nương tựa trong Phật Pháp.

Trong những lần bắt đầu tu thiền tâm không định tỉnh và mất tập trung, hon nữa chưa thể tự ổn định tư tưởng trên cơ bản Phật Pháp và trở nên tự lực. Tâm phải phụ thuộc vào giai đoạn chuẩn bị định để định hướng cho đến khi hòa nhập với giai đoạn chuẩn bị định và tập trung vào sự tĩnh lặng. Khi tâm đi vào sự tĩnh lặng, ngay cả giai đoạn chuẩn bị định cũng không còn là vấn đề nữa. Đây là một bước tiến đến tự lực giai đoạn chuẩn bị định có thề buông lỏng ở giai đoạn này, vì tâm đã ổn định trong tĩnh lặng. Đây là một nền tảng và nơi nương tựa cho tâm có thể thấy rõ. Ngay cả chỉ có chút ít cũng vẫn có thể tìm thấy sự bình thản và an lạc trong tâm, thường thì tâm hay bấn loạn và thiếu tập trung, không thể tìm thấy bất kỳ sự bình yên nào. Điều này là do tâm thường không có sự an lạc mà chỉ gây rắc rối và bất ổn, đói khát, và lo lắng về những vấn đề không có ích gì với nó. Đối với hầu hết các vấn đề này là những suy nghĩ và trí tưởng tượng của tâm, là cấu uế và đốt cháy chính mình - mà không có ai khác tham gia.

Đức Phật đã khám phá ra phương cách tu tập chính xác và đạt được kết quả cho sự an lạc của tâm. Do đó, Ngài có thể giải thích về nguyên nhân, hoặc phương cách tu tập, cùng với mục đích và thành quả của sự tu tập. Ngài dạy chúng ta phương cách phụ thuộc vào chính mình là thông qua thiền định và đây là con đường trực tiếp đến sự tự lực vững chắc. Đưa tâm vào trong sự tĩnh lặng, ở bất kỳ mức độ nào, làm tăng thêm lòng tự tin và niềm tin ngày càng cao - mà không phải hỏi ai khác về nó. Bạn sẽ biết từ bên trong chính mình. Điều này được gọi là paccata.m or sandi.t.thiko. Kiến thức tốt hay xấu, những gì cần khắc phục, loại bỏ hoặc phát triển, sẽ nảy sinh trong tâm. Điều này sẽ được hiểu bởi chính mình và cho chính mình, vì tâm ngày càng vững chắc hơn.

(Paccatta.m veditabbo vi~n~nuuhi: Thập phần Giáo pháp (tính Tam Tạng và Sớ Giải) hay Cửu phần Giáo pháp này là pháp mà kẻ trí, kẻ thiện phàm phu, Chư Vị Thánh Nhân đáng để tự mình liễu ngộ.)

(Sandi.t.thiko: Cửu phần Giáo Pháp (4 Ðạo, 4 Quả và Níết-bàn) không phải là những Pháp để đi đến và nghe. Giáo pháp này phải được tự liễu tri và tự thấy.)

Mức độ tập trung, một khi đạt được, đã đủ để tạo thành một nền tảng cho tâm, một ngôi nhà mà tâm có thể tìm thấy nơi trú ẩn và bình yên. Ngay bây giờ khi chúng ta suy nghĩ quá nhiều đến nỗi chúng ta cảm thấy yếu lòng và mệt mỏi, chúng ta nên hướng nội và thiền định. Tâm sau đó có thể nghỉ ngơi và lắng đi tất cả các mối bận tâm của nó, tìm thấy sự bình yên và tĩnh lặng. Điều này được gọi là đi vào bên trong để nương tựa, để tìm một nơi nghỉ ngơi thoải mái và dễ dàng. Đây là một cấp độ của sự nương tựa cho tâm.

Những bước tiếp theo, mặc dù hành giả vẫn quan tâm đến định, tiến tới các khía cạnh tinh tế và tinh khiết hơn của tâm. Các mức độ tập trung nhất thời, sự tập trung tăng lên và sự tập trung đạt được [5] cho thấy sự tinh luyện của định. Điều này định đạt đến đỉnh điểm trong sự tập trung, và trên mức độ đó thì định không còn chỗ để vượt lên.

Một khi tâm có một mức độ tĩnh lặng, theo mức độ đạt được định, nó vẫn tĩnh lặng và tinh khiết. Tuy nhiên, nếu không tu tập chánh niệm và tuệ [6], tâm sẽ chỉ ở mức độ đó , thiếu căn bản trí tuệ để nhổ bỏ phiền não. [7] Nếu chúng ta so sánh các phiền não với một cái cây, mặc dù chúng ta có thể đã cắt tỉa các nhánh, thân chính vẫn không bị cắt và vẫn có khả năng cho ra các nhánh mới.

Đây là lý do tại sao chúng ta được dạy tìm hiểu phương cách của tuệ. Tuệ là một trí thông minh sắc sảo và khéo léo. Nó có thể điều tra và theo dõi thông qua mà không có bất kỳ giới hạn. Đức Phật đã mô tả tuệ và tri kiến - thậm chí còn tinh tế hơn tuệ - trong bài Kinh Chuyển pháp luân. Hãy lắng nghe:

"Nyaa.na.m udapaadi, panyaa udapaadi, vijjaa udapaadi, aaloko udapaadi."

"Tri Kiến phát sanh, trí tuệ phát sanh, tri kiến cao hơn phát sanh, ánh sáng phát sanh."

Tri kiến hay Minh (trí tuệ) về cơ bản đề cập đến Tam minh. [8] Trí tuệ phát sanh, và, với sự tinh luyện hơn, Tri kiến cao hơn phát sanh - phát sinh ngay từ chính tâm này. Tuệ loại bỏ những phiền não bao trùm tâm, trong khi định chỉ đơn giản là có xu hướng để những phiền não nằm ngủ yên trong tâm. Nó chưa có khả năng diệt trừ bất kỳ phiền não nào. Sự dính mắc của tâm, nhưng tâm vẫn không thay đổi mặc dù nó yếu đi vì bị lôi cuốn bởi nhiều thứ khác nhau. Một khi tâm được nhu thuận và an lạc, tuệ có thể trở thành vũ khí quan trọng của chính nó như là vũ khí quan trọng đánh xuống và nhổ bật tất cả những phiền não khác nhau trong tâm, từng bước một.

"Samaadhi-paribhaavitaa panyaa mahapphalaa hoti mahaanisa.msaa."

Ở đó! "Tuệ một khi được hỗ trợ và nuôi dưỡng trong định, là một thành quả lớn và lợi thế lớn. "Sự thẩm định trở nên tinh xảo, sự quán sát nhanh nhẹn và dũng cảm, để nó có thể cắt bỏ phiền não.

"Panyaa-paribhaavita.m citta.m sammadeva aasavehi vimuccati."

"Tâm được bồi dưỡng với trí tuệ dẫn đến sự giải thoát ra khỏi những cấu uế."

Hãy lắng nghe điều này! Chỉ có tuệ mới có thể nhổ bật cấu uế; không quan trọng là thô, trung bình hay vi tế, không có cấu uế nào vượt ra ngoài phạm vi của tuệ. Đây là một nguyên tắc chính đáng đảm bảo chất lượng và giá trị tu tập của chúng ta, đó là loại bỏ hoàn toàn các cấu uế từ tâm. Đó là cùng một phương thức tu tập mà Đức Phật và các Thánh đệ tử của Ngài đã toàn thành trước chúng ta.

Thật vậy, định và tuệ không thể tách rời nhau. Dù tính cách và khuynh hướng của chúng ta có thể là gì, định luôn cần thiết như một nhiệm vụ làm thanh thản cho tâm. Tâm thư giãn tách khỏi, bằng cách làm tĩnh lặng những suy nghĩ và mối bận tâm của nó trong định. Ngay cả công việc trên thế giới cũng cần phải có thời gian nghỉ ngơi và sự hồi phục - việc làm mà không có sự nghỉ ngơi là không thể. Điều này chắc chắn có thể sử dụng hết thời gian làm việc, nhưng, cũng giống như việc ăn uống hết thức ăn và số tiền cần thiết để mua thực phẩm đó, điều cần thiết là cơ thể đã tái tạo sức sống để tiếp tục công việc. Nghỉ ngơi và ngủ có thể lãng phí thời gian, nhưng, một lần nữa, điều đó cung cấp cho thể tạng sức mạnh mới để hoàn thành nhiệm vụ và công việc của mình. Nếu không nó sẽ không thể tiếp tục.

Việc sử dụng thời gian và vật chất này để cung cấp và tăng cường cơ thể chắc chắn không để bị lãng phí. Thay vào đó, chúng hữu ích như nhiên liệu cho một chiếc xe, sẽ không đi đến bất cứ nơi nào mà không có nhiên liệu. Định và tuệ liên hệ với nhau. Tâm cần thời gian để tĩnh lặng và an lạc trong định, và sau khi nghỉ ngơi, tâm có thể tiếp tục quán sát bằng chánh niệm và tuệ phù hợp với khả năng của mình.

Thuật ngữ Tuệ này được mô tả một cái gì đó rất tinh tế và phạm vi rộng, để phù hợp với tính cách và xu hướng của một người khi hành xử. Bất kỳ phương pháp nào chúng ta sử dụng để thẩm xét vì mục đích nhổ bỏ gốc rễ các phiền não đều được gọi là chánh trí.

Không nhất thiết luôn luôn phải đi tìm kiếm và đọc kinh điển để biết cách đối phó với các phiền não; và để nó trở thành 'Giáo Pháp - Chân Lý'. Những kinh sách này được trích ra từ tâm đó là Giáo Pháp-Chân Lý, đã thực sự làm công việc nhổ bỏ gốc rễ của phiền não và thấy rõ kết quả. Chỉ sau đó được viết ra trong kinh điển. Vì vậy, đây không phải là trường hợp các kinh điển hình thành trước Chân Đế - đó là phải thực sự tu tập.

Đức Phật là người đầu tiên tu tập và vì vậy không có kinh sách nào đã được viết ra để Ngài thực hành. Khi Ngài dạy các đệ tử của mình về Thánh Đế, Ngài đã không viết ra trong các văn bản trên lá bối. Ngài dạy họ bằng lời nói, và rồi các môn đệ của Ngài tự mình thực hiện Giáo huấn qua lời nói. Các Ngài đã học những giáo pháp ở đâu? - Từ thực tế trong tâm các Ngài, mà các Ngài đã thấy rõ kết quả của việc tu tập của chính mình.

Chính vì lý do này mà các phương pháp và cách tiếp cận của chánh niệm và tuệ phụ thuộc chủ yếu vào từng cá nhân. Mỗi người trong chúng ta cần suy nghĩ, kiểm tra, quán sát và đưa ra các phương pháp bằng trí thông minh và khả năng của mình, theo từng trường hợp. Do đó, không cần phải luôn quay trở lại để lấy lại thẩm quyền kinh điển với các câu hỏi như: "Tôi đã tự nghĩ ra điều này để khỏi phải đối diện với những phiền não." Cách suy nghĩ này không phù hợp với các nguyên tắc của Gia Pháp và không thể được gọi là chánh trí. Khi những điều chúng ta nhớ từ kinh điển không thể được hiện thực hóa trong việc loại bỏ tâm của chúng ta về bất kỳ phiền não nào thì điều này cũng vậy, đối với chúng ta, đó không phải là chánh trí. Nó có thể là sự khôn ngoan đúng đắn trong kinh điểm nhưng nó sai ở cách nó được sử dụng.

Giáo pháp trong kinh điển giải thích chỉ ở một mức độ hạn chế. Không thực sự rộng rãi. Nếu chúng ta so sánh với một loại thuốc, thì đó là một phương thuốc chung không đặc biệt không phải là nhằm vào một căn bệnh cụ thể. Việc chúng ta tích hợp và xây dựng một phương pháp cụ thể có khả năng đối phó với từng ô nhiễm cụ thể được gọi là y học. Đó là một phương thuốc nhằm mục đích nhổ bật gốc rễ của phiền não nào đó. Đây là lý do tại sao những người đang tu tập thành công theo cách tuệ của Phật pháp, có chánh niệm và tuệ đồng hành mọi lúc mọi nơi.

Ngài Acharn Mun từng nói Ngài "nghe Pháp ngày và đêm". Chỉ cần nghĩ về điều đó! Mọi thứ liên tục tiếp xúc với các giác quan của chúng ta về thấy, nghe, ngửi, nếu, đụng ở mọi lúc. Nếu tri kiến về sự tiếp xúc này không xuất hiện ở trong tâm, đang chờ đợi với sự thừa nhận, thì nó xảy ra ở đâu nữa? Nó là gì mà thừa nhận? Sự nhận thức của tâm cũng khuấy động chánh niệm và tuệ, phải đến để thẩm nghiệm tình trạng tâm đang diễn ra với sự xem xét kỹ lưỡng, phù hợp với nguyên nhân và kết quả. Nó thẩm nghiệm sự tiếp xúc và khi biết, nó có thể rút lui hoặc cho đi. Đây là những gì được gọi là, 'nghe Pháp ngày đêm', lắng nghe Giáo pháp theo các nguyên tắc nguyên thủy của tự nhiên. Các phiền não là nguyên tắc tự nhiên đồng thời với tâm. Phật pháp, với giới, định và tuệ là những nguyên tắc tự nhiên trong tâm. Tất cả phụ thuộc vào cách chúng ta mang chúng ra để sử dụng trong cuộc thẩm nghiệm của chúng ta; sử dụng chúng để tận dụng tối đa theo khả năng của chánh niệm và tuệ, đó là công cụ lý tưởng để sử dụng.

Về thân. Hãy lắng nghe! *Mười tám giới (dhàtu), ngũ uẩn (khandha), tạo thành thân thể. Đức Phật đã có thân và tất cả các đệ tử của Ngài đã có thân. Ở một giai đoạn họ đã nắm giữ và dính mắc với ngũ uẩn, giống như chúng ta bây giờ. Những phiền não như vậy đối với các Ngài như bây giờ đối với chúng ta. Nhưng bằng cách nắm bắt và dính mắc vào, chúng ta tạo nên các điều kiện và nguyên nhân cho sự tích tụ phiền não trong tâm.

(Mười tám giới (dhàtu)là hình thức triển khai của sáu giới, gồm có sáu căn, sáu trần và sáu thức (nhãn thức, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý thức).

(Ngũ uẩn(khandha) là Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn.)

Đức Phật và các Thánh Arahant đệ tử của Ngài trước đây đã có phiền não — giống như chúng ta bây giờ —làm cách nào các Ngài có thể diệt tận gốc chúng? Thân tứ đại giống nhau, năm uẩn như nhau, nhưng các Ngài có thể giải thoát sự dính mắt của các Ngài trong khi chúng ta không thể. Tại sao? Chúng ta dường như không thể hiểu, nhưng làm thế nào mà các Ngài có thể đạt được sự nhận thức thấu đáo về Pháp? Tại sao chúng ta cũng không thể nhận thức thấu đáo? Tâm thì hiện diện, và chánh niệm và trí tuệ có thể được xây dựng trong từng khía cạnh, theo bất kỳ góc độ nào chúng ta muốn đưa lên để thẩm nghiệm.

Thân này, tồn tại ngay với chúng ta ở đây bây giờ, là một cái gì đó có thể được biết và hiểu. Khi chúng ta nói rằng tâm không thể phụ thuộc vào chính nó, tất cả những gì nó xuất hiện là nó cần phải phụ thuộc vào thân. Hơn nữa, nó không chỉ dựa vào các uẩn mà còn giữ chúng như là chính mình. Ở đây! Chúng ta phụ thuộc vào ngũ uẩn và tự hào chúng là Ta. Thế còn cái đó thì sao? Ngay cả với một số giới hạn hổ thẹn, chắc chắn chúng phải bị giữ bởi vì sự thiếu hiểu biết, và không có bất kỳ khả năng buông bỏ nào. Vì vậy, hoàn toàn chính xác khi nói rằng chúng ta không biết xấu hổ và chúng ta cần phải thừa nhận sự ngu ngốc của mình. Từ đây, chúng ta phải nỗ lực phát triển sự thông minh sẽ nhìn thấy những điều này và từ bỏ chúng thông qua sức mạnh của những nỗ lực của chúng ta.

Vì vậy, đầu tiên, chúng ta hãy nhìn thẳng vào hiện thực. Những điều này tuân theo các nguyên tắc tự nhiên và đó là như chúng là, trong khi chúng ta nỗ lực để kéo chúng vào như là cái bản ngã. Bây giờ điều đó sẽ gây ra vấn đề bởi vì nó đi ngược lại sự chân thật của mọi thứ. Để phù hợp với sự chân thật bạn cần phải thẩm nghiệm để thấy y theo sự chân thật về chúng. Liên tục thẩm nghiệm và tiếp tục điều tra cho đến khi bạn có thể hiểu. Một khi bạn hiểu, bạn sẽ không phải ra lệnh cho tâm buông bỏ. Mà nó sẽ tự đi vì những thứ này độc hại và có hại cho chúng ta, do sự dính mắc của chính chúng ta. Chắc chắn không có lợi ích trong sự dính mắc này. Nếu có bất kỳ công đức hay phước báu nào, Đức Phật sẽ dạy chúng ta nắm lấy - nhưng sau đó, lời khuyên như vậy sẽ không cần thiết vì tâm tự nó đã sẵn sàng tham dự vào. Sự dính mắc đó thì thật sự là cấu uế và có hại.

Mặc dù những thứ đó có thể gây nguy hiểm cho chúng ta, chúng ta vẫn nắm bắt và ôm chúng vào người. Chúng ta giữ chúng bằng cách đưa ra các giả định rằng, tôi như thế này, tôi như thế; họ là tôi; họ là của tôi. Rắc rối nảy phát sinh ngay tại đó với những giả định và quan niệm dựa trên ảo tưởng.

Không nguyên tố nào trong các uẩn này có bất kỳ ý nghĩa trong tự chúng. Chúng tồn tại, trong thực tế, giống như những cây và những núi và như thế. Chúng ta biết rõ nhiều khía cạnh khác nhau của chúng và điều này làm cho nó trở thành nỗi lo âu trong tâm và phải đối phó với nó. Một khi chết, chúng ta không thể nhận thức chúng, điều đó cho thấy rằng tâm đang trong tình trạng hỗn loạn. Nếu chúng ta ở đây, không có hạnh phúc; nếu chúng ta đi, sẽ không có sự hài lòng; nếu chúng ta nắm giữ, sẽ không có an lạc. Và điều này cứ lặp đi lặp lại. Làm thế nào sân hận và bực bội này có thể xảy ra.

Tâm này hoàn toàn tràn đầy ảo tưởng. Bất cứ khía cạnh nào nó phơi bày, không có gì ngoài ảo tưởng và các dính mắc có hại. Chúng ta than phiền rằng, "tâm không thể phụ thuộc vào chính nó" và vì vậy phải tìm kiếm và bám vào thứ này hay thứ kia. Sự quán sát của chúng ta thông qua trí tuệ được thực hiện để chúng ta có thể hiểu toàn bộ tình huống này. Sau đó, chúng ta có thể bỏ nó qua một bên, đẩy nó ra, thoát khỏi phiền não và dần dần đạt được sự tự lực.

Chúng ta ghi nhận những thứ khác một cái nhìn đầy đủ hơn và có thể đạt kết quả để hiểu chúng. Chúng ta hãy nhìn vào toà cao ốc, nhà cửa, phụ nữ, đàn ông, động vật và những thứ vật chất. Chúng ta có thể biết liệu chúng tốt hay xấu, có giá trị hay không, có đáng giữ hay không — nhưng tại sao chúng ta không thể nhận ra điều này về cơ thể của chúng ta? Không chỉ chúng ta không hiểu, mà chúng ta còn yêu và nắm bắt nó trong sự dính mắc. Chúng ta sẽ không dám yêu hay giữ những thứ bên ngoài theo cùng một cách, đặc biệt là nếu chúng ta biết chúng không có gì tốt. Chúng ta sẽ không làm bất cứ điều gì với chúng. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta sẽ lấy tất cả — cái tốt với cái xấu. Người ta có thể nói gì? Điều này là điều chúng ta thể hiện sự ngu ngốc của mình thật sự. Đôi mắt này trong tâm chúng ta nhìn thấy cơ thể như thế nào, tâm chúng ta biết, nhưng tất cả đều ở mức độ hời hợt của những người bình thường. Do đó, nó tiếp tục, theo một cách bướng bỉnh, không ngừng nghỉ mà không có kiến thức thực sự, theo cách hiểu thông thường của trần tục. Đây thực sự là cách phổ biến của vô minh, loại ảo tưởng thông thường trong vòng tròn kiến thức. Nó không phù hợp với chân đế, đó là lý do tại sao chúng ta phải tìm cách đưa chân đế vào tâm; vì đây là trí tuệ Một khi trí tuệ ở đó, chúng ta sẽ nhận ra chân đế — không còn tiềm ẩn — về bản thân chúng ta kết hợp trong cơ thể vật lý này.

Hãy xem xét cẩn thận. Cái thân này không lớn lắm: chiều cao chừng một sải (1,82 m), chiều ngang chừng 44 cm và chiều dầy chỉ một gang tay. Chúng ta nên có thể nhìn tất cả mọi thứ - ở bên ngoài chỉ cần một chút thời gian. Ở bên trong, nhìn sâu với sự cứu xét thành tâm, theo trạng thái hiện tại và các điều kiện để giải thể cuối cùng của nó.Nó không thực sự đi đâu cả; nó không làm gì ngoài việc hướng đến sự hủy diệt và tái sanh trở lại với các yếu tố ban đầu của nó. Và đó là tất cả. Dùng Tuệ thực hiện một tầm hiểu biết sâu sắc và chân thành về Chân Lý này. Khi Chân Lý đi thẳng vào tâm theo cách vượt ngoài tranh chấp, sự nắm bắt và dính mắc sẽ ngay lập tức rút lại. Nếu Chân lý chưa được thâm nhập, thì hãy thẩm nghiệm bằng trí tuệ cho đến khi Chân Lý thâm nhập.

Trí tuệ này không đến từ bất cứ ai khác. Cái nhìn sâu sắc sự hiểu biết sâu sắc đi vào bên trong cơ thể — điều đó đúng với chúng ta ở đây —là một cái gì đó phát sinh từ cuộc quan sát của riêng bạn, sự hiểu biết của riêng bạn. Khi sự hiểu biết đó hoàn thành, bạn sẽ hoàn toàn buông tay. Bạn là người đang nắm giữ và không ai có thể buông bỏ cho bạn mà là bạn tự kiểm tra và tự giải thoát.

Chỉ cần nhìn vào thân như một cái gì đó để dựa vào và trụ lại. Nếu, chúng ta vô minh và thiếu sự khôn ngoan, bạn xem nó là chính mình hoặc thuộc của mình, nó sẽ khiến bạn đau khổ vô tận. Điều này đặc biệt trong giây phút cuối cùng của các uẩn tan rã. Những lo lắng và hối tiếc, tình yêu và sự dính mắc của bạn, tất cả sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát. Thậm chí nhiều hơn 'một con diều bị đứt dây trên cao', bạn sẽ bị quay cuồng với gió.không ai biết bạn sẽ rơi vào cõi nào, và tất cả thứ này mặc dù sự thật là thân xác không có đáng giá so với những tình cảm và sự tiếc nuối như vậy. Nó hoàn toàn tạo thành từ những thứ đi đến sự tan rã.

Bạn có kiên trì chống lại chân lý không? Khi thời điểm đến, không thể phủ nhận rằng các uẩn phải tan rã. Đây là chân lý. Bạn có tự đặt mình chống lại nó bằng cách vẫn yêu thương và trân trọng, không muốn chúng yếu dần và tan rã? Chống lại với chân lý này, bạn sẽ chỉ dồn nén đau khổ cho chính mình, cho đến cuối cùng cũng không có lối thoát. Tất nhiên, trừ khi bạn nhanh chóng trở về với khoảnh khắc hiện tại để chiêm nghiệm thông qua trí tuệ. Nếu bạn thành công trong việc này thì bạn sẽ nhận được lợi ích lớn đó— Hạnh phúc cao thượng của Niết-bàn: "Nibbaana.m parama.m sukha.m!". Tuy nhiên, nếu bạn chống lại luật thiên nhiên, thì cũng có khả năng vào lúc đó bạn sẽ mất đi những năng lực và trí thông minh của mình.

Trí tuệ là một trạng thái của hệ thống vũ khí nghệ thuật nên thấu hiểu thông qua cuộc thẩm tra của bạn với chân lý. Sự giải thoát và buông bỏ [tất cả các dính mắc] trong sự phù hợp với chân lý, cả bây giờ trong khi bạn vẫn đang sống ở đây và tại thời điểm tan rã. Trí tuệ sau đó sẽ đánh giá rõ ràng tình hình hiện tại và tương lai - không gì có thể đặt ra vấn đề.

Niềm vui và nỗi đau vẫn còn bởi vì các uẩn vẫn còn chức năng. Những uẩn này sanh khởi trong sự phụ thuộc vào nhau. Và đó là tâm biết và chịu trách nhiệm. Tâm biết nhưng không nắm bắt. Bạn nên hiểu rằng có hai cách mà tâm có thể biết — hoặc biết trong tầm kiểm soát với chân lý hoặc bằng cách biết và nắm bắt.
Thọ uẩn[9] của bất kỳ loại nào hoặc cấp độ nào hiện diện với năm uẩn nhưng không có trong tâm thuần khiết. Các Vị Thánh Arahant không phải chịu đụng sự cảm xúc của cả uẩn và tâm, trong khi 'chúng ta rất nhiều' nắm giữ sự dính mắc để tạo thành vòng luân hồi.[10] Khi trạng thái của những lực đẩy của các uẩn khác nhau và lệch chúng ta đi theo; và khi nó chao đảo và rơi xuống chúng ta bị thất bại xáo trộn với nó. Đó là vì chúng ta phụ thuộc vào chúng. Chúng dẫn chúng ta chao đảo và chúng ta chao đảo, chúng ngã thì chúng ta cũng ngã. Khi chúng đứng chúng ta đứng thì chúng ta cũng có thể giữ vững đến một mức độ nhất định nhưng chúng không chịu đứng yên. Ngay cả khi chúng kiên trì và chưa đến lúc tan rã, chúng ta vẫn buồn về cái chết hơn chúng.

Do đó, điều cần thiết là chúng ta phải tìm hiểu, rõ ràng để thấy với tuệ, rằng những điều này chỉ là một cái gì đó để tuân theo. Ngày ... phút ... thời gian đều đặn tiêu thụ mọi thứ. Nếu chúng ta thấy cách thời gian và thiên nhiên ăn mòn, gặm nhấm những thứ này, chúng ta sẽ thấy rằng nó giống như một con chó gặm nhấm xương thịt. Không có sự khác biệt nào cả. Nó cứ gặm nhấm, cắn và xé cho đến khi không còn gì để ăn. Vì vậy, có sự ăn mòn [của các uẩn] theo cùng một cách. Chúng tiếp tục tan rã từng chút một, cho đến khi chúng đến điểm chân lý cuối cùng.

Cho dù chúng ta đang ngồi, đứng, đi, nằm hoặc ngủ ngon, thời gian tiếp tục ăn mòn, gặm nhấm. Tan rã, làm suy yếu và suy tàn. Do việc liên tục gặm nhấm và áp đảo. Vì vậy, bạn nghĩ rằng bạn có thể phản đối và ngăn chặn điều này? Không, điều này không dừng lại. Vì đó là quá trình [không thể tránh khỏi] của tự nhiên - một cái gì đó có tỷ lệ lớn. Giả định của chúng ta là sai, và những gì sai không phù hợp với những gì đúng và xác thực. Sự tan rã là khá đúng của tiến trình diễn biến; đó là theo nguyên tắc tự nhiên của chúng. Để chống lại bản chất thiết yếu của chúng là lỗi của tâm để cuối cùng phải đau khổ.

Bắt đầu ngay bây giờ với sự tìm hiểu toàn diện về những điều này. Khi thời gian cuối cùng cũng đến, sẽ không còn run rẩy vì quá trình xem xét kỹ lưỡng và hiểu biết của bạn đã hoàn tất và bạn sẽ biết rằng đây là cách không thể tránh khỏi. Không có lựa chọn nào khác.

Vì vậy, sau đó, hãy để mỗi thứ đi theo cách riêng của nó. Bất cứ điều gì xảy ra, hãy để nó xảy ra mà không cố gắng chống lại tính thực tế của nó. Cảm giác đau đớn đốt cháy cơ thể và nó dần trở nên giòn và 'quá liều'. Nó giảm dần cho đến khi nó vỡ ra và tan rã. Tuy nhiên,tâm được bao phủ bởi chánh niệm và trí tuệ sẽ không bị phá vỡ, sẽ không bị dập tắt và sẽ không 'chờ đợi'. Đó là bản tánh của chính nó, tự lực, không cần phụ thuộc vào bất cứ điều gì — và vô cùng thoải mái.

Tại đây là nơi chúng ta thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu, giá trị của nó đối với tâm. Đây là lý do tại sao các vị Thánh, bắt đầu với Đức Phật, dạy chánh niệm và trí tuệ là điểm chính — để chúng ta có thể giữ tâm , kéo tâm ra khỏi phiền não và giải thoát khỏi sự sợ hãi.

Những lời dạy của mỗi vị Phật giống như nhau. Điều này là do các nguyên tắc tự nhiên như nhau, và phiền não luôn giống nhau. Không có vị Phật nào dạy khác hoặc bất đồng ý với điều này. Tu tập là luôn luôn loại bỏ phiền não — dù lớn hay nhỏ — từ tâm. Điều này tuân theo các nguyên tắc cơ bản của thiên nhiên, mà tất cả các vị Phật đều dạy. Nếu chúng ta đi ra khỏi những nguyên tắc này, chúng ta sẽ trở thành trò cười của những phiền não.

Do vậy cần phải tìm hiểu. Không có vấn đề rộng hay hẹp — cho dù toàn bộ vũ trụ và các yếu tố thế gian. Có cái gì ở đó mà tâm có thể phụ thuộc và nương tựa không? Chú ý thuật ngữ 'nương tựa'. Ngay cả những thứ liên quan mật thiết với chính chúng ta cũng không an toàn. Ngoài thân của chúng ta, chúng ta không hy vọng tìm được nơi nương tựa trong bất cứ cái gì.

Ngay cả những vật liên quan chặt chẽ với chúng ta cũng không đáng tin cậy. Nếu chúng ta không thể nhận ra mối đe dọa mà chúng gây ra, thì ở nơi đâu chúng ta sẽ có thể thấy được? Đây là nơi nguy hiểm phải được nhìn thấy và tâm phải thoát ra khỏi sự nguy hiểm của chúng. Tiêu chuẩn đó trở nên rõ ràng trong phạm vi đầy đủ được gọi là:

'Attaa hi attano naatho': 'Chính ta là nơi nương tựa cho ta.'

Tâm không phụ thuộc vào bất cứ cái gì. 'Giới', 'định' hoặc 'tuệ' trong giai đoạn giải thoát cuối cùng, là những thuật ngữ không còn cần thiết. Tại sao một nơi nương tựa lại tìm thấy trong các vật dụng và phương tiện đã thực hiện thành công công việc của chúng là dọn sạch phiền não. Các vật dụng nên được đặt theo điều kiện của chúng. Một con dao để cắt rau hoặc gọt vỏ trái cây sau khi hoàn thành được đặt sang một bên chúng ta chỉ lấy thức ăn và ăn. Điều rõ ràng là chúng ta không ăn con dao.

Giới, định và tuệ là những dụng cụ để đối phó với phiền não. Khi phiền não được loại bỏ, mọi rắc rối cho tâm cũng biến mất. Trong khi cuộc sống vẫn còn những dụng cụ này có thể được sử dụng vì lợi ích của thế giới, phù hợp với các quan niệm thông thường. Tuy nhiên, chúng sẽ không cần thiết để tu chỉnh phiền não một lần nữa. Đặc biệt, vào thời điểm cuối cùng khi sự đi qua từ mười tám giới (dhàtu)* và ngũ uẩn (khandha) sẽ diễn ra, chắc chắn không cần bất cứ điều gì. Chánh niệm và trí tuệ không còn là vấn đề nữa và thân không có vấn đề gì, bởi vì tất cả các vấn đề trong tâm đã hoàn thành. Không có gì có thể gây ra mối quan tâm. Vì vậy, bạn nên tiến tới kết thúc vấn đề này, vì đây là lúc mọi lo lắng của bạn sẽ chấm dứt.

Nếu bạn vẫn còn những khó khăn — thì đó là rắc rối. Chúng ta nghe về những vấn đề liên quan đến đau khổ và khó khăn, liên quan đến sinh, lão, bệnh và tử. Chúng tiếp theo từ những gì chúng ta gọi là 'vấn đề'

Với sự kết thúc các rắc rồi mọi vấn đề đều chấm dứt. Thẩm tra và sự hiểu biết.Tất cả những điều tôi đã đề cập ở đây nằm trong thân hoặc tâm của chính bạn. Nghiên cứu chúng bằng chánh niệm và trí tuệ của bạn. Suy niệm thấu đáo ngày này qua ngày khác. Đừng tự mãn. Chánh niệm và tuệ không phải là thứ có thể mang vào để nấu và ăn, nhưng chúng có thể được mang vào để đối phó với những phiền não. Bằng cách sử dụng chúng theo cách này, việc loại bỏ có thể kéo dài cả ngày. Tuy nhiên, sự tự mãn sẽ chỉ khiến bạn chìm xuống— và chắc chắn không có gì để đạt được điều đó. Kết quả cuối cùng sẽ là khi bạn bị mắc kẹt ở một góc, bạn thậm chí sẽ không biết trí tuệ của mình đã biến mất ở đâu. Cuối cùng bạn sẽ đập đầu vào tường. Điều đó chắc chắn sẽ không làm được!

Chúng ta không phải là đại đệ tử của Đức Thế Tôn, Đức Phật, người đập đầu vào tường. Đức Phật đã không làm như vậy, và các vị Thánh Đệ Tử cũng không làm như vậy, những người mà chúng ta tôn kính, "Con đem hết lòng thành kính quy y Tăng". Tại sao chúng ta đi và đập đầu chúng ta theo cách này? Chúng ta phải cố gắng, dùng bất cứ phương tiện và chiến lược nào, để tìm con đường thoát ra. Cố gắng bằng hết tất cả khả năng của mình. Đạt đến giới hạn [hiện tại] khả năng của chúng ta, rồi sau đó là tất cả những gì chúng ta có thể quản lý. Dù chúng ta đạt đến tình trạng hay cấp độ nào, chúng ta chấp nhận nó — bởi vì đó là điều chúng ta có thể làm. Nhưng miễn là nó không vượt quá khả năng của chúng ta, chúng ta có thể cố gắng tiến xa hơn, đấu tranh, kéo mình theo và buộc phải vượt qua.

Chìm vào vòng luân hồi sinh tử tương tự như khi tàu bị lật úp và mọi thứ trên tàu rơi xuống. Con tàu, hàng hóa chìm cùng nhau và người chết. Chúng ta đi xuống với mười tám giới và ngũ uẩn thông qua ảo tưởng và vô minh. Thân đi xuống theo đúng bản chất của nó, nhưng tâm chúng ta chìm xuống vì sự ngu ngốc của chính mình. Bạn có chấp nhận điều đó không? Không có gì tốt về sự thất bại này. Tâm đi thẳng xuống vực sâu dưới sự ép buộc của si mê; và điều đó chắc chắn không tốt. Trong thực tế, nó rất tệ và không mong muốn. Vì lý do này mà chúng ta phải đảm bảo rằng chúng ta thường xuyên tìm lối thoát.

Tìm hiểu để thấy chân lý, và đặc biệt là chân lý về cảm giác đau đớn và khó chịu của thân và tâm. Điều này hết sức quan trọng. Tâm tiếp cận và nắm giữ quá nhiều đến nỗi nó trở thành bệnh tâm thần trên tất cả mọi thứ khác. Tìm hiểu để nhận ra rằng năm uẩn không phải là 'tôi': Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn là những điều kiện đặc biệt phụ thuộc lẫn nhau trong mười tám giới và ngũ uẩn. Tâm là một cái gì đó riêng biệt. Bằng cách phân tích và mổ xẻ thành công, sử dụng chánh niệm và tuệ của bạn, bạn sẽ đạt được sự an toàn ra khỏi mọi nguy hiểm.

Cái chết — cứ để nó đi theo con đường của nó. Tất cả mọi vật trên thế giới này đều chết, chúng đều có một cái chết vốn có. Làm thế nào bạn mong đợi chúng không thay đổi và bền bỉ — Khi đến thời gian chết, chúng phải chết . Không có gì có thể chế ngự và phủ nhận điều này. Ngay cả vị Thánh Arahants cũng phải chết; tuy nhiên với các Ngài, đó là sư khác biệt khi các Ngài viên tích mà không cần quan tâm và lo lắng. Đối với chúng ta, chúng ta lo lắng ngay giây phút trước khi cái chết đến — hoảng loạn và bám víu. Trong cái chết, sợ hãi và sự chiếm hữu tăng lên chồng chất thành mối đe doạ lớn hơn ngọn núi. Hãy cẩn thận đừng để điều đó xảy ra vói bạn. Hãy chắc chắn rằng bạn vượt qua những lo lắng như vậy.

Như tôi luôn nói, hãy chuẩn bị và đặt mình với khả năng — 'Thiện pháp'[11] (ý nghĩa) 'đủ để khéo léo và nhạy bén'. Đây là 'phước lành' của chúng ta.

"Kusalaa dhammaa akusalaa dhammaa... "

Bất cứ khi một bất thiện pháp sanh khởi— không khéo léo hoặc vô minh — hãy xóa bỏ nó bằng thiện pháp tinh xảo, đó là chánh niệm và tuệ của bạn

Đây là những gì được gọi là 'tụng kinh kusalaa cho chính mình', và đó là điều bạn phải làm cho chính mình. Tùy thuộc vào người khác để theo dõi các nhà sư để tụng kinh ... "kusalaa dhammaa" ... sau cái chết của bạn gây ra rất nhiều phiền phức và phiền phức. Một cái gì đó chúng ta không muốn..

Thiện pháp:" hãy chuẩn bị cho mình đủ sự khéo léo, đầy đủ và bao gồm tất cả, và sẽ không cần bất cứ điều gì khác. Bạn sẽ chết mà không bị hoảng loạn và không sợ hãi như một vị Phật'sugato'

Đó là tất cả

Sugato: là một trong 9 Ân đức Phật - Sugato - Đức Thiện Ngôn là Bậc thuyết pháp chân lý đem lại lợi ích thật sự cho chúng sinh.
Ghi Chú
1.
arom (Thai). See Glossary.
2.
"Atta hi attano natho, kohi natho paro siya?" (Kinh Pháp Cú - kệ ngôn 160)
"Hãy nương tựa chính mình, tựa nương ai khác được, khéo tu tập tự thân, được nơi nương khó được"?"

3.
precepts. See Glossary and Appendix.
4.
chuẩn bị định (parikamma).
5.
samadhi: khanika samadhi; upacara samadhi; appana samadhi. See Glossary.
6.
sati-panyaa.
7.
kilesa.
8.
Nhớ được kiếp quá khứ, biết về sanh tử của chúng sanh và kiến thức về sự tan rã của tất cả lậu hoặc
9.
vedanaa.
10.
va.t.ta cakka.
11.
Tụng theo quy định tại bất kỳ lễ hỏa táng theo truyền thống Thái Lan.

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

Tuân Thủ Giới Luật - Bhikkhu Bodhi

Tuân Thủ Giới Luật 

 A Discipline of Sobriety

Bhikkhu Bodhi

Minh Hạnh Việt dịch

Mấy tháng trước tôi đến tham dự một khóa nhập thất tu khổ hạnh hai tuần ở một đất nước đời sống nghèo nhưng có sự tôn trọng cuộc sống khổ hạnh, thiền định của các tu sĩ. Mỗi ngày, một nhóm các thí chủ khác nhau mang đến tu viện thực phẩm cúng dường, thường từ các thị trấn và làng mạc xa xôi. Họ đến vào tối hôm trước, chuẩn bị bữa ăn sáng được gửi đến nhà ăn của tu viện, và sau đó, vào buổi trước ngọ, thực phẩm cúng dường đến các vị tu sĩ khi họ đi khất thực. Sau khi các nhà sư khác đã thu thập thức ăn của họ và quay trở lại, vị trưởng lão ở lại để làm lễ Quy Y và Giới Luật cho những người thí chủ, giảng một bài pháp ngắn, và thực hiện sự cống hiến công đức.

Một ngày trong thời gian nhập thất của tôi, tôi nhận thấy một số nam thí chủ có hành vi khá lạ lùng gần khu nhà của vị trụ trì. Tôi hỏi bạn tôi, một nhà sư người Đức, về hành vi kỳ lạ của họ, và lời giải thích của vị Sư này làm tôi choáng váng. "Họ say rượu,". Nhưng đó không phải là tất cả. Sư tiếp tục: "Điều duy nhất bất thường về sự việc hôm qua là những người đàn ông đã say rượu sớm hơn trong ngày. Thường hành vi của họ tốt cho đến khi các nghi thức được làm xong, sau đó họ mới say túy lúy."

Sự tiết lộ khủng khiếp này đã dấy lên trong tôi cả sự phẫn nộ và buồn phiền. Phẫn nộ, vì với quan niệm rằng những người tự coi mình là Phật tử nên giữ giới cấm cơ bản nhất ngay trong các khu vực thiêng liêng của một tu viện - thực vậy là một trong số ít ở trong đất nước Sri Lanka, nơi ngọn lửa gian truân vẫn đang bừng cháy. Buồn phiền, bởi vì đây chỉ là bằng chứng mới nhất mà tôi đã thấy về căn bệnh nghiện rượu đã thâm nhập sâu vào ruột của quốc gia này, nơi mà di sản Phật giáo đã ăn sâu hơn hai nghìn năm. Nhưng Sri Lanka không phải là quốc gia Phật giáo duy nhất bị chìm sâu bởi làn sóng tiêu thụ rượu. Làn sóng đã lan tràn qua quá nhiều thế giới Phật giáo, với Thái Lan và Nhật Bản xếp hạng cao đặc biệt trong danh sách ảnh hưởng nguy hại.

Lý do cho xu hướng đáng ngại này rất khác nhau. Một là sự giàu có đang gia tăng, điều mà những người giàu với rượu nhập khẩu cao cấp là một biểu tượng có thể nhìn thấy của sự giàu có và quyền lực. Một lý do khác là tầng lớp trung lưu đang phát triển, mà bắt chước một cách mù quáng các thói thường của xã hội phương Tây. Một lý do khác nữa là sự nghèo đói, điều này khiến thói uống rượu thành một lối thoát dễ dàng khỏi khuôn mặt nghiệt ngã của thực tế hàng ngày. Nhưng bất kể lý do gì, nó còn hơn cả nỗi đau buồn và lo lắng của chúng tôi rằng rượu là giải quyết. Nó là sự ăn mòn công trình xây dựng tinh tế các giá trị Phật giáo trên mọi cấp độ - cá nhân, gia đình và xã hội.

Đức Phật đã ban hành ngũ giới cho những người Phật tử như là sự tuân thủ tối thiểu về đạo đức : không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh dục lạc, không nói dối, và không uống rượu và các chất say. Ngài không tự ý đặt ra những giới luật này hoặc ra ngoài tuân thủ các phong tục cổ xưa, với kiến ​​thức toàn diện của mình, Ngài thấy hiểu , những đường lối dẫn đến phúc lợi và hạnh phúc của chúng ta và những đường lối dẫn đến tổn hại và đau khổ. Giới luật thứ năm, cần được nhấn mạnh, không phải là một cam kết chỉ để tránh tình trạng say xỉn hoặc sự tàn phá quá mức của rượu. Nó không cần thiết phải tuyệt đối nhịn hẳn. Theo giới luật này, Đức Phật chỉ ra rằng Ngài đã hiểu rõ bản chất tinh tế, độc hại của nghiện ngập. Người nghiện rượu hiếm khi là nạn nhân của cơn đột ngột bất ngờ. Thông thường nó từ từ ngấm dần, có thể là bắt đầu với hình thức để bắt đầu một cuộc xã giao trong xã hội, thức uống giữa bạn bè, hoặc một ly rượu cocktail sau một ngày làm việc vất vả. Nhưng nó không dừng lại ở đó: từ từ nó chìm đắm vào trái tim của nạn nhân cho đến khi chúng làm yếu đi sự tự chủ của nạn nhân.

Để xua tan bất kỳ nghi ngờ nào về lý do Ngài ban hành giới luật này, Đức Phật đã ghi lời giải thích vào trong quy luật tự nó: Người kiêng không sử dụng đồ uống có chất say và chất gây nghiện vì chúng là nguyên nhân của sự không tự chủ(pamada). Không tự chủ có nghĩa là sự thiếu thận trọng về đạo đức, bỏ qua những giới hạn giữa đúng và sai. Đó là sự mất mát của tính cẩn trọng (appamada), nguyên tắc đạo đức dựa trên nhận thức sâu sắc về những nguy hiểm ở những trạng thái bất thiện. Sự tự chủ là then chốt của con đường tu tập Phật giáo, "con đường dẫn đến bất tử," xuyên qua cả ba giai đoạn của con đường tu tập: đạo đức (Giới), sự tập trung (Định) và trí tuệ (Tuệ). Xử dụng các thức uống có chất say là nguy cơ rơi khỏi từng giai đoạn. Việc sử dụng rượu có chất cần sa là cảm giác xấu hổ và là không có đạo đức và do đó sẽ dẫn đến gần như chắc chắn để vi phạm các giới luật khác.Người nghiện rượu không do dự khi nói dối hoặc ăn cắp, mất tất cả ý thức về tình dục, và có thể dễ dàng bị kích động ngay cả để giết người. Số liệu thống kê xác nhận rất rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa việc sử dụng rượu và tội phạm bạo lực, không nói về tai nạn giao thông, nguy hiểm nghề nghiệp và bất hòa trong nhà. Nghiện rượu thực sự là một gánh nặng tốn kém nhất trên toàn xã hội.

Khi sử dụng chất say ngay cả những đạo đức cơ bản nhất cũng biến mất, cần nói một ít về ảnh hưởng ăn mòn của nó trên hai giai đoạn cao hơn của con đường tu tập. Một tâm trí bị bao vây bởi rượu sẽ thiếu sự tỉnh táo cần thiết cho tu tập thiền định và chắc chắn sẽ không thể tạo ra sự khác biệt tốt giữa phẩm chất tinh thần tốt và xấu để cần thiết phát triển trí tuệ. Con đường tu tập Phật giáo toàn bộ là một kỷ luật của sự điềm đạm, một kỷ luật đòi hỏi sự can đảm và trung thực để có một đoạn đường dài, tinh tấn, hoàn toàn tỉnh táo về những sự thật nghiêm túc về sự hiện hữu. Sự can đảm và trung thực như vậy sẽ khó có thể cho một người phải thoát ra khỏi sự thật đắm chìm vào ánh sáng lung linh nhưng mỏng manh dễ vỡ được mở ra bởi rượu và ma túy.

Một người trưởng thành, người tinh thần và tình cảm ổn định có thể thưởng thức một vài ly rượu với bạn bè mà không biến thành một kẻ say rượu hoặc một kẻ giết người. Nhưng có một yếu tố khác cần quan tâm: đó là, cuộc sống này không phải là cuộc sống duy nhất chúng ta trải qua. Dòng ý thức của chúng ta không chấm dứt khi chết mà vẫn tiếp tục trong các hình thức khác, và hình thức của nó đã được định rõ bởi thói quen, khuynh hướng và hành động của chúng ta trong cuộc sống hiện tại này. Khả năng tái sinh là bất tận, nhưng con đường dẫn đến các cõi thấp rộng và mịn, con đường đi lên dốc và hẹp. Nếu chúng ta bắt buộc phải đi bộ dọc theo mỏm đá nhỏ hẹp quan sát từ trên cao trông xuống vách đá sắc nhọn, chúng ta chắc chắn sẽ không muốn đặt mình vào nguy hiểm với một vài ly rượu. Chúng ta cũng sẽ ý thức rằng có nhiều điều làm cuộc sống của chúng ta đang bị đe dọa. Nếu như chúng ta chỉ cần có sự sáng suốt để nhận ra, chúng ta sẽ thấy ra rằng đây là một phép ẩn dụ hoàn hảo cho kiếp sống con người, như chính Đức Phật, Đấng Giác Ngộ, đã xác nhận (xem kinh Vực Thẳm SN 56:42). Khi loài người chúng ta đi bộ dọc theo mỏm đá hẹp, và nếu chiều hướng đạo đức của chúng ta bị mờ đục, chúng ta có thể dễ dàng ngã đổ bên đỉnh bờ vực, rơi vào cõi khổ, từ đó cực kỳ khó trở lại .

Nhưng nó không phải lợi ích của chúng ta, mà ngay cả cũng không đem lại lợi ích lớn cho gia đình và bạn bè của chúng ta, do vậy chúng ta nên tuân thủ giới cấm của Phật là kiêng các chất say. Để làm như vậy cũng là một phần trách nhiệm cá nhân của chúng ta trong việc bảo tồn Pháp của Đức Phật. Giáo Pháp của Đức Phật có thể tồn tại chỉ miễn là những người Phật tử gìn giữ nó, và ngày nay một trong những sự mục nát đang âm thầm hủy hoại nền tảng của Phật giáo là sự lây lan rộng rãi thói quen uống rượu của những người Phật tử. Nếu chúng ta thực sự muốn Giáo Pháp tồn tại lâu dài, để bảo hộ con đường giải thoát mở ra cho tất cả thế giới, thì chúng ta phải lưu tâm. Nếu xu hướng hiện tại tiếp tục và ngày càng nhiều Phật tử không chịu nổi sự hấp dẫn của rượu, chúng ta có thể chắc chắn rằng Giáo Lý sẽ tàn lụi trong tất cả hầu như tiếng tăm. Tại thời điểm lịch sử này khi thông điệp của nó đã trở thành rất cấp thiết, Giáo Pháp thiêng liêng của Đức Phật sẽ bị mất đi mà không có gì thay thế được, bị say mèm vì những ly rượu và lần hồ hỡi nâng ly của chúng ta.

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

Pháp không tái sinh

 Pháp không tái sinh
Dhamma Without Rebirth 

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Việt dịch - Minh Hạnh 

Để đáp ứng với những căng thẳng trong cuộc sống thời nay về nhu cầu giáo dục tôn giáo liên quan đến cá nhân và có thể kiểm chứng trực tiếp, trong một số phạm vi Giáo Pháp nào đó, học thuyết về thuyết tái sinh của Phật giáo đã được nêu ra để kiểm chứng lại khẩn thiết hơn. Mặc dù chỉ có một vài học giả Phật giáo đương đại vẫn còn đi xa đến mức đề nghị bỏ học thuyết này vì là "không khoa học", một quan điểm khác đã đạt được kết quả cho thấy trong bất cứ thế nào tái sanh hay không tự nó là một thực tế, học thuyết về tái sinh không cần thiết trên phương diện tu tập Pháp và do vậy không có chỗ đứng chắc chắn trong giáo lý Phật giáo. Phật Giáo thì cho rằng điều quan tâm đến là ở đây và bây giờ, để giúp chúng ta giải quyết các khó khăn trong cuộc sống thông qua sự tăng trưởng sự tự nhận thức và sự trung thực nội tâm. Tất cả những gì còn lại của Phật giáo chúng ta có thể buông bỏ như là những đồ trang sức tôn giáo của một nền văn hoá cổ xưa hoàn toàn không thích hợp cho Giáo Pháp thời đại công nghệ của chúng ta. 

Nếu chúng ta buông bỏ các sở thích riêng của mình trong thời điểm này và thay vào đó đi thẳng đến nguồn gốc của chúng ta, chúng ta sẽ thấy được thực tế không thể chối cãi rằng chính Đức Phật đã dạy tái sinh và dạy nó như một nguyên lý cơ bản của giáo huấn của Ngài. Nhìn tổng thể, những bài thuyết giảng của Đức Phật dạy chúng ta rằng không chỉ là một sự nhượng bộ cho quan điểm đang thịnh hành trong thời của Đức Phật hay là phương thức văn hoá Châu Á, học thuyết về tái sinh có ảnh hưởng to lớn đối với toàn bộ quá trình tu tập Giáo Pháp, mà ảnh hưởng cả hai mục đích mà nó được theo sau để hoàn thành.

Mục đích của con đường tu tập Phật giáo là giải thoát khỏi đau khổ, và Đức Phật chỉ ra rõ ràng rằng những đau khổ mà sự giải thoát là cần thiết đó là sự đau khổ của ràng buộc vào sanh tử luân hồi, vòng tái sinh và chết. Để chắc chắn, Giáo Pháp có một khía cạnh có thể nhìn thấy trực tiếp và có thể tự kiểm chứng được. Chúng ta có thể nhìn thấy nỗi phiền não đó bằng cách thẩm định qua kinh nghiệm của chúng ta, sự căng thẳng, sợ hãi và sự đau buồn luôn luôn phát sinh từ tham, sân, si của chúng ta, và vì vậy để có thể đoạn diệt những phiền não chúng ta phải tẩy trừ tham sân si.Tầm quan trọng của khía cạnh trực tiếp nhìn thấy điều này trong việc tu tập Pháp không thể đánh giá thấp, vì nó nhằm khẳng định sự tự tin của chúng ta vào hiệu quả giải thoát của con đường tu tập Phật giáo.Tuy nhiên, để làm giảm tầm quan trọng của thuyết tái sinh và giải thích toàn bộ tầm quan trọng của Giáo Pháp như là sự giải thoát sự khổ đau tinh thần xuyên qua phẩm cách tự giác để chối bỏ Giáo Pháp theo những quan điểm rộng lớn hơn mà từ đó nó phát huy được quan điểm rộng rãi và chiều sâu của nó.Bằng cách làm như vậy, một trong những nguy cơ nghiêm trọng cuối cùng làm giảm nó xuống chỉ còn một hệ thống cổ xưa phức tạm về tâm lý học của nhân loại.

Đức Phật chính Ngài đã chỉ ra rõ ràng rằng vấn đề gốc rễ sự hiện hữu của con người không chỉ đơn giản là chúng ta thật sự có thể bị tổn thương bởi sự phiền não, sự thất bại và sự sợ hãi, nhưng chúng ta đã ràng buộc mình xuyên qua sự dính mắc vào bản ngã của chúng ta đối với trạng thái sinh già bịnh chết cái mà chúng ta trải qua những hình thức cụ thể của sự đau đớn tinh thần. Ngài cũng cho thấy rằng mối nguy hiểm chính trong các phiền não là nguồn gốc nguyên nhân của sự luẩn quẩn trong vòng tái sinh.Chừng nào mà chúng vẫn bám chặt những tầng lớp sâu thẳm trong tâm trí, chúng còn lôi kéo chúng ta trong vòng tái sinh nơi mà chúng ta bị ngụp lặn trong nước mắt "nhiều hơn nước của đại dương".Khi những điểm này được cân nhắc kỹ lưỡng, sau đó chúng ta thấy rằng việc tu tập Giáo Pháp không nhằm mục đích cung cấp cho chúng ta một sự hòa hợp thoải mái với những cá tính hiện có của chúng ta và tình trạng của chúng ta trong thế giới này, nhưng khi bắt đầu một sự biến đổi nội tâm khó với tới việc đó sẽ hoàn toàn giải thoát cho chúng ta khỏi vòng luân hồi. 

Phải thừa nhận rằng, đối với hầu hết chúng ta động cơ chính để bước vào con đường tu tập Giáo Pháp là đã có cảm giác ray rứt với đường lối thường lệ của cuộc sống chưa được khai sáng của chúng ta chứ không phải là nhận thức sắc sảo của những nguy hiểm trong vòng tái sinh.Tuy nhiên, nếu chúng ta đi theo một con đường Giáo Pháp đến tận cùng và rút ra cái tiềm năng của Giáo Pháp để đem lại hòa bình và trí tuệ cao hơn, nó là điều thiết yếu cho sự thúc đẩy việc tu tập của chúng ta vượt ra ngoài sự trưởng thành điều mà những gì ban đầu đã đưa đẩy chúng ta vào con đường tu tập. Động lực căn bản của chúng ta phải phát triển theo những chân lý thiết yếu mà Đức Phật đã mở ra cho chúng ta, và trên mọi lãnh vực những chân lý đó, phải sử dụng chúng để nuôi dưỡng khả năng của chính mình để hướng chúng ta tới sự nhận thức rõ mục tiêu. 

Động lực của chúng ta đạt được sự trưởng thành cần thiết bằng việc tu dưỡng chánh kiến, yếu tố đầu tiên của Bát Chánh Đạo, như Đức Phật đã giải thích bao gồm sự hiểu biết về các nguyên lý của nghiệp và tái sanh như là cơ bản của cấu trúc sự hiện hữu của chúng ta. Tuy nhiên sự quán chiếu hiện tại là chìa khóa cho sự phát triển của thiền minh sát, thì đó là một sai lầm cực độ khi tin rằng tu tập Giáo Pháp bao gồm toàn bộ trong việc duy trì chánh niệm của hiện tại. Con đường tu tập Giáo giáo nhấn mạnh vai trò của trí tuệ như là công cụ giải thoát, và trí tuệ phải bao gồm không chỉ sự thâm nhập của thời điểm hiện tại theo chiều thẳng đứng của nó, mà còn là hiểu được những gì trong quá khứ và trong tương lai mà hiện tại hiện hữu của chúng ta hiện ra. Nhận thức ở mức độ cao nhất về nguyên tắc tái sinh sẽ cho chúng ta tính chất toàn cảnh tương lai từ đó chúng ta có thể khảo sát cuộc sống của chúng ta trong bối cảnh rộng hơn và tổng số hệ thống các mối quan hệ. Điều này sẽ thúc đẩy chúng ta theo đuổi con đường của chúng ta và sẽ cho thấy ý nghĩa sâu sắc của mục tiêu mà chúng ta tu tập là điểm đích, kết thúc vòng tái sinh như sự giải thoát cuối cùng khỏi đau khổ. 

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Pháp và Phi-nhị-nguyên Tính - Dhamma and Non-duality - Bhikkhu Bodhi

Pháp và Phi-nhị-nguyên Tính - Dhamma and Non-duality

By Bhikkhu Bodhi - 1998

Việt dịch - Minh Hạnh  dịch ngày 30-3-2018

Một trong những vấn đề thách thức nhất mà Phật Giáo Nguyên Thủy phải đối mặt trong những năm gần đây là sự gặp gỡ giữa truyền thống Thiền Vipassana Theravada và truyền thống Thiền Quán "Phi-nhị nguyên tính" của tiểu trường phái Advaita Vedanta của triết lý Vệ Đà và Phật Giáo Đại Thừa. Những phản ứng lại cuộc đối đầu này đã kéo dài đến mức cực đoan, phạm vi từ sự xung đột mãnh liệt đến các nỗ lực có xu hướng tổng hợp và lai ghép.Trong khi bài tiểu luận này không thể đòi hỏi làm sáng tỏ tất cả những vấn đề phức tạp và huyền ảo bao gồm trong cuộc đối thoại này đôi khi không ổn định, tôi hy vọng nó có thể đóng góp một vài tia ánh sáng theo định hướng quan điểm kinh điển Theravada.

Nhận xét đầu tiên sơ khởi của tôi nhấn mạnh rằng một hệ thống tu tập thiền định không phải là tự khép kín mình trong kỷ luật. Bất kỳ phương pháp xác thực nào về việc tu tập tâm linh thì luôn đặt nền tảng ẩn trong một quan niệm khuôn mẫu mà nó xác định các vấn đề thực hành là có dụng ý để giải quyết và mục tiêu hướng tới cái đã được định hướng. Vì lý do đó sự hợp nhất của các phương pháp truyền thụ cho các nhận thức thống nhất không tương hợp thì đầy rủi ro. Mặc dù những sự hợp nhất như vậy có thể làm dịu đi xu hướng thử nghiệm hoặc thuyết chiết trung, nhưng dường như hiệu quả lâu dài của nó sẽ tạo ra một "sự bất hòa liên quan đến nhận thức" điều đó sẽ phản xạ qua các mức độ sâu hơn của tâm lý và gây ra sự nhầm lẫn thậm chí còn lớn hơn.

Điểm lưu ý thứ hai của tôi cho thấy các truyền thống tâm linh Phi-nhị-nguyên tính đôi khi không phù hợp với nhau, nhưng thay vào đó, có nhiều quan điểm sâu sắc khác nhau và chắc chắn được tô màu bởi các đường nét khái niệm rộng hơn của các triết lý bao gồm chúng

Đối với trường phái triết học Vedanta (trong Ấn Độ Giáo), phi nhị nguyên tính (advaita) có nghĩa là không có sự phân biệt cuối cùng giữa Ngã thể, cái tôi tận cùng nhất, và Đại Ngã, thực tại linh thiêng, nền tảng của thế giới. Từ quan điểm của sự nhận thức thấu đáo về Pháp cao nhất, chỉ có duy nhất một thực tại cuối cùng tồn tại - đó là cùng một lúc Ngã thể và Đại ngã - và mục tiêu của cuộc tìm kiếm linh hồn để biết sự thật về chính mình, Ngã thễ, là thực thể vượt thời gian đó là Hiện Hữu, Tỉnh Thức, Hạnh Phúc. Từ khi tất cả các trường phái Phật giáo đều chối bỏ ý tưởng của Ngã thể, không ai có thể chấp nhận phi nhị nguyên tính của trường phái Vedanta. Từ quan điểm của truyền thống Theravada, bất kỳ sự truy tìm nào về tự ngã, cho dù đó là một cá thể vĩnh cửu hoặc là một cái tôi phổ quát tuyệt đối, sẽ phải bị bác bỏ như là một ảo tưởng, một lý thuyết suông ngớ ngẩn mang lại từ sự thất bại trong việc nhận thức thấu đáo đúng bản chất qua kinh nghiệm cụ thể.Theo Kinh Tạng Pāli , một chúng sinh đơn giản chỉ là một sự tổng hop phức tạp của ngũ uẩn, tất cả đều được quy định bằng ba định luật vô thường, đau khổ và vô ngã. Bất cứ giả định nào về tự ngã đối với vấn đề tổng hợp về hiện tượng nhất thời này là một trường hợp về "kiến thức chấp ngã." (sakkayaditthi), xiềng xích cơ bản nhất đó là ràng buộc chúng sinh với vòng tròn tái sanh. Kiến thức về việc giải thoái, đối với Phật giáo, không phải là việc thực hiện một cái ngã chân thực hay tuyệt đối "tôi", nhưng thông qua việc giải thể ngay cả ý nghĩa táo bạo nhất của tự ngã trong mối quan hệ với ngũ uẩn, "việc xóa bỏ tất cả những gì là tôi -tôi làm, của tôi-làm, và những xu hướng nằm dưới tính ngã mạn".

Các trường phái Phật Giáo Đại Thừa, mặc dù những sự khác biệt rất lớn lao của họ, nhưng đồng ý tán thành luận điểm quá khích, theo quan điểm Phật Giáo Theravada. Điều tuyên bố này là không có sự khác biệt cuối cùng giữa luân hồi và Niết bàn, phiền não và thanh tịnh, vô minh và giác ngộ.Đối với trường phái Đại Thừa, sự giác ngộ mà con đường tu tập Phật giáo được mục đích để tỉnh thức ở chỗ chính xác trong việc nhận ra quan điểm phi nhị nguyên tính.Tính chất hợp lệ của tính hai mặt thông thường bị từ chối bởi vì bản chất cuối cùng của tất cả các hiện tượng là tánh Không, không có bất kỳ giá trị thực sự hay tính chất xác thực nội tại, và do đó trong tánh không của tất cả các hiện tượng thay đổi khác nhau,có vẻ như sự phản đối được đặt ra bởi học thuyết Phật giáo thông thường cuối cùng trùng hợp: "Tất cả các pháp đều có một bản chất, điều đó không phải là tự nhiên. "

Lời dạy của đức Phật được tìm thấy trong kinh điển Pali không tán thán một triết lý về phi nhị nguyên tánh của bất kỳ loại nào, và tôi cũng không thể thêm vào đó, một viễn cảnh không phải là nhị nguyên tính được tìm thấy nằm trong những bài thuyết giảng của Đức Phật. Tuy nhiên, dù vậy, tôi sẽ không xác nhận rằng các kinh điển Pali đề ra thuyết nhị nguyên, sự sắp đặt của tính hai mặt như một giả thuyết siêu hình hướng vào sự phê chuẩn tài trí. Tôi sẽ định rõ đặc điểm mục đích của Đức Phật trong kinh điển Pali như là chủ yếu thực dụng hơn là lý thuyết, mặc dù tôi cũng làm nhẹ bớt điều này bằng cách nói rằng chủ nghĩa thực dụng này không hoạt động trong một trật tự triết học nhưng tìm thấy nền tảng của nó trong trạng thái tự nhiên hiện thực khi Đức Phật hiểu thấu nó trong sự giác ngộ của Ngài. Tương phản với các hệ thống phi nhị nguyên tính, cách tiếp cận của Đức Phật không nhằm mục đích khám phá ra một nguyên tắt đạo đức hợp nhất ở đằng sau hoặc kinh nghiệm thấp kém của chúng ta về thế giới. Thay vào đó, nó phải lấy thực tế cụ thể của kinh nghiệm sống, với tất cả sự mơ hồ lan truyền của nó về sự tương phản và phiền não, là điểm khởi đầu và là điểm chính của nó,trong đó nó cố gắng để chẩn đoán trung tâm vấn đề là cốt lõi của sự tồn tại của con người và đưa ra một giải pháp . Do đó, tu tập Phật giáo theo con đường cực đoan không phải là sự hiệp nhất cuối cùng mà là dập tắc sự đau khổ, đưa đến sự giải quyết vấn đề tiến thoái lưỡng nan đang hiện hữu ở mức cơ bản nhất.

Khi chúng ta nhìn vào những điều chúng ta đã kinh qua đúng như nó là thể hiện của bản thân, chúng ta thấy rằng nó được thâm nhập bởi một số phê bình hai mặt quan trọng bằng quan hệ mật thiết sâu sắc cho sự truy tìm tâm linh. Lời dạy của Đức Phật, như được ghi lại trong kinh điển Pāli, đã thu hút sự chú ý của chúng ta một cách không mệt mỏi vào những sự đối xử này và coi sự thừa nhận của họ như là nền tảng không thể thiếu đối với bất kỳ sự tìm kiếm sự giải thoát khôn ngoan nào. Đó chính là những sự tương phản - của thiện và ác, đau khổ và hạnh phúc, trí tuệ và sự vô minh - làm cho việc truy tìm giác ngộ và giải thoát là mối quan tâm cực kỳ quan trọng.

Tại cao điểm của hai lập trường đối lập nhau nhị nguyên tính có điều kiện và vô điều kiện: luân hồi là vòng tròn của tái sinh và chết lập đi lập lại trong đó tất cả đều là vô thường, có thay đổi và đưa đến khổ đau, và Niết Bàn là trạng thái giải thoát cuối cùng, không sanh, không già, và không chết. Mặc dù Niết-bàn, chắc chắn là một thực tại tối thượng ngay cả trong những bản văn sơ khai, và không chỉ đơn thuần là một trạng thái đạo đức hay tâm lý, không có chút ngụ ý nào rằng tính chất xác thực này là lý thuyết suông không thể phân biệt được một cách sâu sắc ở một mức độ hoàn hảo nào đó từ sự xuất hiện đối nghịch, luân hồi. Ngược lại, bài học lặp đi lặp lại của Đức Phật là luân hồi là lãnh vực của đau khổ chi phối bởi tham, sân và si, trong đó chúng ta đã tổn hao nước mắt nhiều hơn nước biển, trong khi Niết Bàn là giải thoát khỏi sinh tử, diệt lòng tham, sân và si, và buông bỏ tất cả các sự tạo điều kiện cho sự hiện hữu.

Như vậy, Phật giáo Theravada làm cho sự tương phản của luân hồi và Niết Bàn trở thành điểm xuất phát của toàn bộ cuộc truy cầu giải thoát. Hơn nữa, nó đối xử với sự tương phản này như là hạn định mục tiêu cuối cùng, đó chính là sự siêu việt của luân hồi và đạt được giải thoát trong Niết bàn. Sự khác biệt của Theravada với các trường phái Đại thừa đáng kể, bắt đầu với thuyết nhị nguyên của luân hồi và Niết bàn, sự từ chối quan tâm tính hoàn toàn trái ngược nhau này như chỉ là một bài học thông minh chuẩn bị cho những người tính năng chậm đốn ,để rồi cuối cùng bị thay thế bởi một số nhận thức cao hơn của phi nhị nguyên tính. Dựa vào quan điểm của kinh điển Pali, ngay cả Đức Phật và các vị A La Hán cũng đau khổ và có sự chết, luân hồi và Niết Bàn, vẫn còn khác biệt.

Những người tu tập tâm linh vẫn đang nghiên cứu những truyền thống thiền quán khác nhau thường cho rằng giáo lý tâm linh cao nhất phải là một trong những đòi hỏi một sự thống nhất siêu hình như là nền tảng triết học và mục tiêu cuối cùng của sự truy cầu giác ngộ. Theo giả định này có tính hiển nhiên, họ có thể kết luận rằng kinh điển Phật giáo Pali,với sự nhấn mạnh đánh giá đúng mức tánh nhị nguyên tính, thì thiếu hoặc tạm thời, đòi hỏi sự hoàn thành bởi một sự chứng ngộ phi nhị nguyên tính. Đối với những người có khuynh hướng như vậy, sự hủy bỏ nhị nguyên tính trong sự thống nhất cuối cùng sẽ luôn luôn xuất hiện sâu sắc và đầy đủ hơn.

Tuy nhiên, nó chỉ là giả xử mà tôi đưa ra. Tôi muốn xác nhận rằng, bằng cách tham khảo lời dạy nguyên thủy của chính Đức Phật, điều mà sự sâu sắc và đầy đủ không cần phải đạt được ở giá trị của sự ưu tú, mà chúng có thể đạt được ở mức độ cao nhất trong khi vẫn bảo tồn nhị nguyên tính và tính đa dạng nổi bật hiển nhiên mang tới sự trưởng thành của thế giới.Tôi cũng muốn nói thêm rằng giáo lý mà nhấn mạnh vào việc thừa nhận những tính nhị nguyên thực sự như chúng là cuối cùng đã trở nên thỏa mãn hơn. Lý do là để thỏa đáng hơn, mặc dù chối bỏ mong muốn thống nhất toàn diện của tâm trí, bởi vì nó có tính đến một yếu tố khác gạt qua một bên tầm quan trọng của việc tìm kiếm sự thống nhất. Điều này là "cái gì khác" là sự cần thiết phải giữ nguyên căn cứ vào thực tế.

Như thế nào tôi nghĩ lời dạy của Đức Phật, được bảo tồn trong truyền thống Theravada, vượt qua mọi nỗ lực khác để giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan của nhân loại là sự từ chối liên tục hy sinh thực tại cho sự hiệp nhất. Phật Pháp không chỉ cho chúng ta một sự tuyệt đối bao gồm tất cả trong những căng thẳng của sự sống hàng ngày làm tan đi trong lý thuyết suông tính chất độc nhất hoặc tình trạng rỗng không khó hiểu. Đúng hơn, nó chỉ cho chúng ta, hướng về thực tại như là phạm vi hiểu biết cuối cùng, đối với mọi sự nhận thức đúng theo chân lý (yathabhuta). Trên tất cả, nó đưa ra cho chúng ta về Tứ Diệu Đế: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế con đường tu tập đế chấm dứt như là giải thoát mọi sự như chúng thực sự. Bốn chân lý này, Đức Phật tuyên bố, là chân lý cao quý, và điều gì làm cho những chân lý cao cả chính là chúng là tatha (thực và khách quan), avitatha (không phải là không thật và không phải là khách quan) và anannatha (không thay đổi). Sự thất bại đối mặt với thực tế của những sự thật này đã khiến chúng ta phải lang thang trong suốt quá trình dài của luân hồi. Đó là bằng cách hiểu sâu sắc chính xác những chân lý này như chúng ta có thể đạt tới sự hoàn hảo đích thực của cuộc tìm kiếm tinh thần: chấm dứt khổ đau.

Trong phần tiếp theo của bài viết trước đây, tôi dự định thảo luận về ba lĩnh vực chính của sự khác biệt giữa giáo lý của Đức Phật, mà chúng ta có đề cập đến ở đây như là "Pháp của Bậc Thánh - Ariyan Dhamma" và các triết lý về phi nhị nguyên tính. Những lãnh vực này tương ứng với ba lãnh vực của con đường tu tập đạo Phật - Đức hạnh (giới), thiền định và tuệ.

Đối với đức hạnh, sự khác biệt giữa hai lời dạy không phải là điều hiển nhiên ngay cả khi cả hai đều khẳng định tầm quan trọng của hành vi đạo đức khi bắt đầu tu tập. Sự khác biệt cơ bản rõ nét giữa hai lời dạy, không phải lúc đầu, nhưng chỉ sau đó, theo cách đánh giá vai trò của đạo đức trong giai đoạn tiến triển của con đường tu tập. Đối với các phương pháp phi nhị nguyên tính, tất cả cuối cùng đã vượt qua được trong việc thực hiện sự thực phi nhị nguyên, nền tảng Tuyệt đối hay cơ bản.Khi Thuần túy hoàn thiện và vượt qua tất cả sự đa dạng, đối với những người đã nhận ra sự khác biệt giữa thiện và ác, đạo đức và phi đạo đức, chúng mất giá trị cuối cùng. Như được nói, những phân biệt như vậy, chỉ có giá trị ở cấp độ thông thường, chứ không phải ở cấp độ nhận thức rõ cuối cùng; chúng là bắt buộc đối với những thực tập sinh, chứ không phải là những người tinh thông. Như vậy, chúng ta thấy rằng trong các hình thức lịch sử của chúng (đặc biệt là trong Hindu và Phật giáo Tây Tạng), các triết lý phi nhị nguyên tính cho rằng tư cách của bậc giác ngộ không thể bị giới hạn bởi các quy tắc đạo đức. Vị hiền giả đã vượt qua tất cả những phân biệt thông thường của thiện và ác.Ngài hành xử một cách tự phát từ trực giác Tối Thượng của các Ngài và do đó không còn bị ràng buộc bởi các giá trị quy tắc đạo đức như những người còn đang đấu tranh với quan niệm. Tư cách đạo đức của các Ngài là khó nắm bắt, không thể hiểu được của những gì được gọi là "trí tuệ khôn ngoan."

Đối với Pháp của Bậc Thánh (Ariyan Dhamma), sự phân biệt giữa hai loại hành vi, đạo đức và vô đạo đức, sắc bén và rõ ràng, và sự phân biệt này vẫn tồn tại suốt đời cho đến khi đạt tới sự thành tựu của con đường tu tập: "Thân hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: "Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành" "(MN 114). Đạo đức của vị Thánh mẫu mực,vị A La Hán, nhất thiết phải thể hiện các tiêu chuẩn đạo đức cao nhất trong tinh thần của phẩm hạnh cả hai trong tinh thần và trong văn bản, và cho sự phù hợp của Ngài trong văn bản là tự phát và tự nhiên. Đức Phật nói rằng người được giải thoát đã sống theo luật lệ của Luật tạng, nhìn thấy những nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhất. Vị Thánh Alahán không thể cố ý vi phạm bất cứ hành vi luân lý đạo đức nào, và cũng không bao giờ theo đuổi bất kỳ hành động nào thúc đẩy bởi tham, sân, si, ảo tưởng hay phiền não.

Trong phạm vi thiền quán hoặc thiền định, chúng ta lại tìm thấy một sự khác biệt nổi bật trong quan điểm giữa các phương pháp phi nhị nguyên tính và giáo pháp của Bậc Thánh. Từ đó, đối với các phương pháp phi nhị nguyên, sự khác biệt cuối cùng là không thực tế, thực hành thiền không rõ ràng hướng tới việc loại bỏ các phiền não và tu luyện các trạng thái đạo đức của tâm. Trong các phương pháp này, người ta thường nói rằng phiền não chỉ là sự xuất hiện không có thực tại tâm, thậm chí cả những biểu hiện của Tịch tịnh tuyệt đối - Nirvana. Do đó tham gia vào một chương trình tu tập để vượt qua chúng là một bài tập vô ích, giống như chạy trốn khỏi một con quỷ huyền bí: để tìm cách loại bỏ phiền não là củng cố ảo tưởng về tính nhị nguyên. Các chủ đề thiền định gợn sóng qua những luồng tư tưởng phi nhị nguyên tuyên bố: "Không ô nhiễm và không trong sạch"; "Những Sự ô nhiễm về bản chất cũng giống như sự khôn ngoan siêu việt"; "Đó là bởi niềm đam mê mà niềm đam mê đã được gỡ bỏ."

Trong pháp của các bậc Thánh hành thiền là một tiết trình thanh lọc nội tại tữ khời điểm tới cứu cánh. Quá trình này bắt đầu bằng việc nhận diện ra những nguy hiểm của các tình trạng bất thiện pháp: chúng thật sự làm ô nhiễm chúng ta cần được ngăn ngừa và loại bỏ. Mục đích đạt đến việc diệt trừ hoàn toàn các phiền não thông qua việc bồi dưỡng các việc làm thiện. Toàn bộ quá trình tu tập đòi hỏi một sự nhận thức sự khác biệt giữa sự tối tăm và sự sáng suốt của tâm, và tập trung vào nỗ lực và tinh tấn: "Ngươi không có chấp nhận những tư tưởng bất thiện đã khởi lên, ngươi từ bỏ nó, trừ diệt nó, diệt tận nó, không cho nó tồn tại""(MN 2). Những chướng ngại là "bởi vì không biết, bởi vì vô minh, kiến thức tiêu cực, không dẫn đến Niết-bàn" (SN 46:40). Tu tập thiền định để thanh lọc các chướng ngại của nội tâm, là sự chuẩn bị cho con đường đoạn diệt các lậu hoặc (asavakkhaya).

Cuối cùng, trong lĩnh vực tuệ học, pháp của các bậc Thánh và những phương pháp phi nhị nguyên tánh một lần nữa lại đi ngược nhau. Trong các phương pháp phi nhị nguyên tánh nhiệm vụ của trí tuệ là phá vỡ sự xuất hiện tính đa nguyên (hoặc tính đa nguyên xuất hiện) trong việc nhận ra tính chất hợp nhất xác thực đó làm nền tảng cho chúng. Trong thực tế hiện tượng, sự khác biệt của chúng và đa số của chúng, chỉ là sự hiện diện, trong khi tính chất xác thực là một người nào đó: hoặc là một đấng tuyệt đối (đấng Atman, Phạm Thiên (Brahman), Chúa Trời (Godhead), vv), hoặc một siêu hình học tính không (Tính không (Sunyata), tiếng nói thầm kín của tâm , Vv). Đối với các trường hợp như vậy, sự giải thoát cùng với sự xuất hiện của tính thuần nhất cơ bản trong đó các đối lập hợp nhất và điều khác nhau dễ dàng xóa bỏ.

Trong pháp của các bậc Thánh mục tiêu của sự khôn ngoan là thấy và biết tất cả sự vật như chúng thật sự là (Như thực - yathabhutananadassana). Vì vậy, để biết những sự vật như chúng là, người trí tuệ phải tôn trọng các hiện tượng theo sự chính xác đặc thù của chúng. Người trí tuệ bỏ ngoài tính đa dạng và tính đa nguyên. Thay vì tìm cách khám phá các đặc tính của hiện tượng, để có được cái nhìn sâu sắc về phẩm chất và cấu trúc của chúng. Nó di chuyển, không theo phương hướng của tất cả bao gồm sự đồng hóa với Tất cả, nhưng đối với việc thoát khỏi tất cả và sự vô tư giải thoát khỏi Tất cả. Việc tu tập trí tuệ không hề "làm suy yếu" các hiện tượng cụ thể bằng cách giảm chúng thành hiện thực, và cũng không coi chúng là những cửa sổ mở ra một mặt cơ bản. Thay vào đó tìm hiểu và phân biệt, để hiểu mọi sự việc như chúng thực sự là: "Và điều gì làm hành giả hiểu sự việc chúng thật sự là?". Hành giả hiểu: đó chỉ là sắc, nó đang sinh và đang diệt. Chỉ là thọ .. tưởng ....thức, như thể đang sinh và đang biến mất. " "Khi người đó cảm nhận được," Tất cả các hành đều là vô thường, đều là đau khổ, đều là vô ngã, "người đó sẽ giải thoát khỏi khổ đau: đó là con đường dẫn tới sự thanh tịnh."

Các hệ thống tôn giáo được tô màu bởi những ngụ ngôn được ưa thích của họ như là các giáo lý xây dựng. Đối với các phương pháp phi nhi nguyên tính, hai lối so sánh nổi bật chiếm ưu thế. Một là không gian, vừa bao gồm và vừa thâm nhập mọi vật trên thế giới nhưng tự nó không có nền tảng vững chắc nào hết; Cái kia là đại dương, nó vẫn duy trì tính đặc thù của nó dưới sự thay đổi của muôn ngàn đợt sóngNhững ngụ ngôn được sử dụng trong giáo pháp của bậc Thánh rất đa dạng, nhưng một chủ đề đoàn kết nhiều người trong số họ là tính sắc bén của cái nhìn - cái nhìn phân biệt rõ ràng và chính xác bức tranh toàn cảnh của các cảnh nhìn thấy, mỗi người trong cá tính riêng của nó:> "Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: "Đây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Đây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết như thật: "Đây là khổ... biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!" Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". "(MN 39).